but

SÉT DO SẮT SINH RA – TRỞ LẠI ĂN SẮT

Như sét từ sắt sinh …

Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến thầy Tỳ-kheo Tissa.

Thượng tọa Tissa được cúng dường tấm vải thô để may y. Chị của thầy thương em, rọc vải bỏ vào cối giả cho mềm, loại bỏ những sợi thô làm thành một tấm vải mới mịn đẹp. Khi tấm vải đã được may thành y, thầy rất thích và định bụng ngày mai sẽ đắp. Ngờ đâu ngay ngày hôm ấy thầy bị bội thực chết tái sanh thành con rận nằm trong chiếc y mới. Các vị tỳ kheo thỉnh ý chia y. Nhưng Đức Thế Tôn dạy hãy dời việc chia y bảy ngày.

Tôn giả làm theo lời dạy. Cuối ngày thứ bảy, con rận chết và tái sanh lên cõi trời Ðâu-suất. Ngày thứ tám, đức Phật cho phép chúng Tăng chia y.

Lúc bấy giờ Ngài mới nói:

– Tissa đã tái sanh làm con rận trong y mới của mình. Khi các ông định phân chia y, con rận đã nổi giận. Nó sẽ chống lại các ông, và sẽ đọa địa ngục. Vì lẽ đó Ta bảo để y lại. Hiện nay thì Tissa đã sanh lên cõi trời Ðâu-suất, Ta mới cho phép các ông lấy y đem chia.

Rồi ngài giảng them:

– Tham ái thật là vấn đề lo lắng lớn của chúng sanh, như gỉ sét phát sanh từ sắt, trở lại ăn mòn sắt, tham ái phát sanh từ chúng sanh và đưa chúng sanh vào ba đường ác.

Phật nói kệ:

“Như sét từ sắt sanh,

Sắt sanh lại ăn sắt,

Cũng vậy, quá lợi dưỡng

Tự nghiệp dẫn cõi ác.”

tieu

Vì chúng sanh đa bịnh, nên Chư Phật mới cho nhiều loại thuốc để trị bịnh chúng sanh, có gặp được thuốc cũng là có duyên, nhưng có uống thuốc thì mới khỏi bịnh chứ, cũng như thế người có học Phật thì tuệ căn trong sáng lợi ích mọi loài, người chưa học Phật thì làm sao Nhiêu-ích hữu-tình; vậy thì chúng ta có nhân duyên nếu gần gũi được thì chia sẽ và mở bày giúp cho mọi người hiểu được thì tuệ căn trong sáng cảnh trái duyên tự nhiên không còn nữa.

(Sưu tầm)

b

NHÂN QUẢ ĐỊNH LUẬT CĂN BẢN CỦA ĐỜI SỐNG

Nguyễn Thế Đăng

Nhân quả để giải thích đời sống

Nhìn chung quanh chúng ta, sự vật nào cũng có những nguyên nhân, để có thể giải thích tại sao là cái này mà không là cái khác, tại sao nó có mặt ở đây, vào lúc này. Và rồi có những nguyên nhân để nó hư hoại, ngày nào sẽ biến mất khỏi nơi này. Khoa học cũng nói thế: Không có cái gì mà không có những nguyên nhân. Cuộc sống khoa học là đi tìm những nguyên nhân của sự vật, và hội hợp những nguyên nhân đã biết để tạo ra kết quả là một sự vật khác với những tính năng mới lạ hơn. Nguyên lý duyên sanh của Phật giáo cũng nói thế, nhưng với tầm nhìn sâu rộng hơn nhiều: Cái gì cũng có từ những nguyên nhân, hay những nhân duyên, do nhiều nhân duyên mà sanh.

Theo thuyết Tương đối của Einstein, không gian và thời gian mà lâu nay chúng ta cứ tưởng là những thực thể tuyệt đối, đều là tương đối, nghĩa là biến đổi theo điều kiện, theo nhân duyên. Không gian, thời gian hiện hữu do nhân duyên; không gian và thời gian là duyên sanh, nghĩa là tương đối, đây là điều Phật giáo đã nói ngay từ những ngày đầu có mặt. Đó là nhân quả ở cấp độ vật lý.

Ở cấp độ con người thì nhân quả khó thấy hơn, vì con ngưởi không chỉ có cấp độ vật lý là thân, mà còn có cấp độ khẩu và cấp độ tâm ý. Tâm ý thì khó thấy, hành động (nghiệp) do con người làm (ý tưởng) thì không để lại dấu vết vật lý nào, ngoại trừ trong chính tâm ý. Nhưng tâm ý là cái quan trọng nhất ở con người so với lời nói (khẩu) và hoạt động của thân.

Kinh Pháp Cú bắt đầu bằng hai bài kệ:

Tâm dẫn đầu các pháp

Tâm làm chủ, tâm tạo

Nếu nói hay hành động

Với tâm ý xấu ác

Khổ đau liền theo ngay

Như bánh xe theo trâu.

Tâm dẫn đầu các pháp

Tâm làm chủ, tâm tạo

Nếu nói hay hành động

Với tâm ý thanh tịnh

Hạnh phúc liền theo ngay

Như bánh xe theo trâu.

Khó thấy nhân quả ở cấp độ tâm ý. Khoa học cũng không thể giải thích tại sao những đứa con cùng một cha mẹ, nghĩa là cùng gien, lại khác nhau, cả về thân thể, tính tình, khuynh hướng, sở thích, thông minh, thọ yểu, nghĩa là khác nhau về thân, khẩu, và tâm ý. Nếu nói về hoàn cảnh xã hội tạo nên sự khác biệt này thì con cái đều được nuôi dưỡng và giáo dục trong cùng một môi trường, cùng một đẳng cấp của cơ sở giáo dục. Bất cứ lãnh vực vật lý học, sinh học, xã hội học, tâm lý học nào cũng không thể giải thích được sự khác biệt này. Tại sao đứa này thích y khoa, đứa kia thích toán, đứa nọ lại chỉ ưa nghệ thuật?

Đạo Phật giải thích rằng những khuynh hướng khác nhau đó là do chúng nó đã thích và luyện tập nhiều những môn ấy trong những kiếp trước rồi. Thân tâm hiện tại là cái quả của những hành động thân khẩu ý là cái nhân trong những kiếp trước. Trong các câu chuyện của Kinh Bổn sanh (Jataka), Đức Phật giải thích chi tiết tại sao người này thế này, gặp những sự cố thế này, được những thuận lợi thế này, chịu những nghịch cảnh thế này. Tóm tắt, những quả tốt xấu mà chúng ta đã gặt là do những nhân tốt xấu mà chúng ta đã gieo. Những nhân là những hành động (nghiệp) tốt xấu mà mỗi người đã làm, và quả là kết quả đã hình thành (nghiệp quả) từ những hành động là nhân trước kia.

Chữ nghiệp (karma) có nghĩa là hành động. Hành động tốt xấu nào cũng được tạo ra từ động lực, và động lực tạo ra ấy sẽ phản hồi lại trên chủ thể hành động. Thí như một trái banh khi ném vào tường sẽ dội, phản hồi trở lại. Sức ném càng lớn thì sự phản hồi càng mạnh. Tạo ra động lực và động lực phản hồi này là định luật nhân quả. Có động lực tạo ra thì phải có động lực dội về, chứ động lực ấy không mất đi đâu cả. Toàn bộ thân tâm con người đều tạo ra những hành động (nghiệp), hành động của thân, của khẩu và của tâm ý. Những hành động ấy hoặc tốt hoặc xấu đều dội lại nghiệp quả hay quả báo hoặc tốt hoặc xấu.

Trước một sự cố bất ngờ xảy ra cho một người, chúng ta tự hỏi tại sao như thế này, tại sao không như thế kia, và khi không tìm ra những nguyên nhân có thể thấy, bằng bất cứ ngành khoa học nào, chúng ta phải kết luận rằng đó là nghiệp quả, nghĩa là kết quả của những nguyên nhân là những hành động trong quá khứ ở đời trước của người ấy.

Luật nhân quả là sự công bằng. Không có cái gì xảy ra với chúng ta do “may mắn” hay “rủi ro” ngẫu nhiên. Nói theo một châm ngôn Phật giáo “Không có cái gì (quả) có thể xảy ra với chúng ta nếu nơi chúng ta không có mầm mống (nhân) cho cái đó”. Mỗi người   là kẻ duy nhất thừa kế những hành động đã làm của mình. Đây là sự công bằng phổ quát cho tất cả, sự công bằng của nhân quả này khiến chúng ta không sợ hãi, lo âu vô cớ.

Trong khi khoa học hiện đại không thể giải thích câu hỏi tại sao về đời sống thì triết học Tây phương cũng không thể làm gì hơn. Chủ nghĩa hiện sinh vô thần thì cho cuộc đời là phi lý, triết học và tôn giáo nhất thần thì tốt xấu gì cũng đổ cho Thượng đế, nhưng nếu tất cả đều do Thượng đế thì chẳng lẽ Thượng đế lại không công bằng khi tạo ra đời người này thì sướng, đời người kia thì khổ, người này may mắn, người kia bất hạnh…

477432_4041998057401_1006809109_o

Thế nên với Tây phương, đạo đức chỉ là lời kêu gọi lương tri con người, nên làm cái này cái kia. Hay đạo đức là mệnh lệnh của một Thượng đế ở bên ngoài mình; và khi những mệnh lệnh đạo đức đó khác nhau ở những tôn giáo thì lại gây ra đánh nhau để bảo vệ cho mệnh lệnh Thượng đế của mình. Nếu chỉ so sánh một lãnh vực là đạo đức, thì đạo đức đời thường là “anh nên làm như thế này, như thế kia”. Với Phật giáo, trước sự công bằng của nhân quả, thì“anh phải làm như thế này nếu anh muốn được như thế kia”.

Với Phật giáo, định luật nhân quả là định luật của toàn bộ đời sống. Khi không có nhân quả thì cũng không có thiện ác, nghiệp báo, và không có cả sự tiến bộ của con người. Muốn tiến bộ cũng dựa vào nhân quả để tiến bộ; muốn thụt lùi, xuống thấp, cũng phải dựa vào nhân quả để thụt lùi, xuống thấp. Tất cả con đường Phật giáo đều dựa vào nhân quả. Có năm giới căn bản bởi vì có định luật nhân quả. Không có nhân quả thì tám chánh đạo vô hiệu. Mọi con đường Phật giáo, mọi thực hành Phật giáo đều nhằm chuyển hóa con người, đưa nó đến chỗ đúng hơn, tốt hơn, đẹp hơn. Không có định luật nhân quả sẽ không có nền tảng cho sự chuyển hóa ấy.

Cũng chính vì có nhân quả cho nên phải có đời trước và đời sau. Có đời sau bởi tất cả những nhân tốt xấu đã tạo ra trong đời này không trổ hết quả trong đời này, nên phải có đời sau để cho những năng lượng tốt xấu đã tạo ra đó biểu lộ và tiêu tan. Cũng thế, vì có đời này như là kết quả của những nhân đã từng tạo ra, thì phải có những đời trước để tạo ra những nhân đó. Đời này tôi chịu những động lực nào đó là vì đời trước tôi đã tạo ra những động lực ấy. Đời này tôi bị trái banh đánh trúng mặt, vì đời trước tôi đã ném nó.

Không tin nhân quả, không tin có đời trước đời sau, người ấy sẽ rơi vào đoạn kiến, hư vô. Và đây là cái xấu ác lớn nhất:

Ai vi phạm vào pháp (nhân quả)

Ai nói lời vọng ngữ.

Ai bác bỏ đời sau

Không ác nào không làm.

Kinh Pháp Cú, phẩm Thế gian Nhân quả để tạo dựng một đời sống hạnh phúc Kinh nói, “Bồ-tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”.

Người thiện lành thông minh sợ tạo ra những nhân xấu vì sẽ hưởng những quả xấu, và biết tạo ra những nhân tốt để lợi mình lợi người. Còn không sợ quả là khi quả xấu đã đến do đã tạo ra những nhân xấu ở trong những đời trước mà những hành động tốt trong đời này không đủ để chuyển hóa toàn bộ chúng thì phải thản nhiên chịu nhận thôi. Cách cải thiện duy nhất cuộc đời mình là từ nay chỉ tạo những hành động tốt, những nhân tốt.

181809_3980256073890_778834002_n

Cho nên cuộc đời chúng ta hạnh phúc khi chúng ta có những hành động tốt là nhân để tạo ra hạnh phúc. Nếu khổ đau, không như ý thì chúng ta phải tìm và sửa lại những nhân đã tạo ra khổ đau, không như ý đó bằng những nhân ngược với chúng. Như thế, cuộc đời này là những cơ hội trước mắt để tạo ra hạnh phúc. Chính nhờ định luật nhân quả này mà người ta có thể cải thiện cuộc đời mình, tiến đến chỗ đúng hơn, tốt hơn, đẹp hơn, nghĩa là đến chỗ hạnh phúc hơn, bằng cách tạo ra những nhân đúng hơn, tốt hơn, đẹp hơn.

Người ta tạo ra những nhân tốt hay xấu trong từng giây phút một bằng vốn tài sản thân khẩu ý của mình. Trước một sự cố, phản ứng người ta có thể tốt hoặc xấu, có thể tích cực hoặc tiêu cực. Chẳng hạn, trước một sự cố trái ý mình, thay vì tức giận và làm sự việc thêm rắc rối theo chiều hướng tiêu cực, thì với một tâm an nhẫn, chúng ta giải quyết sự việc theo chiều hướng tích cực lợi mình lợi người. Trước một sự việc, chúng ta có một phản ứng tích cực thay vì tiêu cực, đó là một hành động tốt. Tất cả những hành động tốt con người có thể làm được đều được nói đến trong Bồ-tát hạnh. Bồ-tát hạnh gắn liền sự tích tập phước đức và tích tập trí huệ với nhau.

Đời sống này được tạo bằng những phản ứng, những tương tác của thân khẩu ý của những cá nhân. Nếu chúng ta phản ứng theo chiều hướng tiêu cực do tham, giận, si, kiêu mạn, đố kỵ… chúng ta đã làm cho đời sống nhiễm độc. Kết quả là khổ đau, bất như ý từ cá nhân, gia đình, đến xã hội. Trái lại, phản ứng theo chiều hướng tích cực, nghĩa là phản ứng theo trí huệ và từ bi, dần dần chúng ta sẽ biền đổi thế giới này thành vàng ròng: Tất cả thế giới được trang nghiêm bằng vàng ròng của trí huệ và từ bi.

Một xã hội lành mạnh và hạnh phúc là một xã hội tin và làm theo nhân quả.

By: Nguyễn Thế Đăng

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 196.

 

sucdieutriquanam

Sức diệu trí quán âm

“Sức diệu trí quán âm…
Cứu đời thoát ly khổ.”
– Quán thế âm nghĩa là quán xét âm thanh của thế gian mà đến cứu độ. Cái diệu trí quán sát âm thanh kia trong câu kệ trên.
Diệu trí tức là đại trí phương tiện khởi được diệu dụng lợi tha, sau khi đã chứng được hậu đắc trí. Diệu trí cũng tức là diệu dụng của căn bản trí. Có đủ đại trí này, nên mới có thần lực diệu dụng cứu khổ cho thế gian. Phương tiện diệu dụng có “Quán dụng của Trí và Âm dụng của Bi.” Hai đức Bi Trí đến mức viên mãn cùng tột. Trên con đường viên mãn hóa hai đức Bi & Trí, các vị bồ tát hòa mình với chúng sanh và tùy theo từng cơ duyên mà hóa độ. Vì vậy, các ngài lấy công hạnh làm phương sở y cứ. Như ngài Văn Thù lấy Đại trí làm yếu chỉ, ngài Địa Tạng lấy Đại nguyện làm phương châm, ngài Thế Chí lấy Đại dũng, ngài Phổ Hiền lấy Đại hạnh v.v…
Nhưng Đại Bi là nồng cốt, không có đại bi tâm thì không có hạnh nguyện đạt được hoàn mãn trên đường lợi tha.
Vì thế mà trong các đức Bồ tát, đức Quán thế âm có nhiều oai lực, thần lực Đại bi nhiều nhân duyên cơ cảm hơn hết đối với loài hữu tình trong thế giới chúng ta.
“Chơn quán – Thanh tịnh quán
Quảng đại trí tuệ quán….”
Vì thế dùng Diệu Trí quán chơn tánh nên biết Phật chúng sanh một thể Từ Bi bình đẳng không hai. Quán ấy gọi là Chơn quán.

fullsizerender

Diệu Trí quán tịnh pháp biết các tịnh pháp bổn lai vốn không tương ưng với nhiễm pháp, vì thế lìa cả hai chướng Ngã và Ngã sở. Quán ấy gọi là Thanh tịnh quán.
Dung thông diệu dụng trong các tịnh pháp thấu suốt được chân lý tương đối, tuyệt đối của tục đế và chân đế, rốt ráo viên dung nên gọi quán ấy là Quảng đại trí tuệ quán.

Chính vì phải giác ngộ cả hai phương diện nhận thức (trí huệ) và siêu hình (thực tại tuyệt đối bất khả tư nghì) mà các vị bồ tát tự hạ mình, đưa mình từ cảnh giới trí tuệ siêu phàm xuống cõi thế gian rối ren ràng buộc và thiếu kém này, ngay nơi giải thoát của các ngài, để giải thoát những chúng sanh đang bị trầm luân. Các ngài tự nguyện sống trong trần là chỉ vì muốn san sẻ cái kiến thức tuệ giác và đời sống giác ngộ của mình với tất cả chúng sanh đau khổ.

Quán Thế Âm còn có nghĩa là Quán Tự Tại.
Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy: Sáu căn là nhân của luân hồi sanh tử và sáu căn cũng là nhân của giải thoát. Sau khi Phật bảo 25 vị Thánh trình bày chỗ tu chứng của mình xong, Phật dạy Bồ-tát Văn thù chọn lựa căn viên thông để tu. Cuối cùng Bồ-tát chọn lựa “Nhĩ căn” là viên thông hơn cả.
Đây là lối tu: “Phản văn văn tự tánh” của Bồ-tát Quán Thế Âm. Chữ phản ở đây có nghĩa là ngược lại, thay vì từ xưa đến giờ chúng ta chạy theo âm thanh, có tiếng là có nghe, không tiếng là không nghe, quên mất tánh nghe thường hằng của mình. Bây giờ biết rồi, chỉ nhớ mình có tánh nghe, nghe tất cả mà không bám vào âm thanh riêng biệt nào. Cho nên Bồ-tát Văn Thù khuyên đại chúng và ngài A-nan: “Xoay cơ quan nghe của mình, trở lại nghe tánh nghe của mình, thành tựu tánh nghe là đạo vô thượng. Đây là con đường vào cửa Niết-bàn của tất cả chư Phật nhiều như số vi trần.

img_6557

Nên kinh nói trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, công đức thù thắng hơn tất cả. Vậy, chúng ta trì niệm bằng cách nào? Nghĩa là phản quán lại tánh nghe chân thật của mình, nên không bị âm thanh bên ngoài chi phối, do đó hằng sống với tánh nghe. Trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm là phương pháp tu tập quán chiếu cuộc đời, để thấy rõ được bản chất thật hư của nó; nên mỗi hành giả tự độ mình, vượt qua các khổ đau đang có mặt.
Mục đích chính của kinh là độ thoát tất cả chúng sinh, trừ tai nạn trong đời và thực hiện sự cầu vi diệu mà trong kinh nói: “Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái”. Vì bài kinh mang ẩn dụ cao siêu, chỉ cần người tin tưởng niệm danh hiệu Bồ-tát là đã có lợi lạc ngay tại đây và bây giờ. Huống hồ là chúng ta chí thiết thành khẩn “niệm” tinh chuyên miên mật không gián đoạn, thì kết quả sẽ được y như nguyện.
Cầu con trai tức là cầu được trí tuệ rộng lớn, vì con trai tượng trưng cho lý trí mà muốn có trí tuệ thì phải tu tập thiền định, chứ không thể nào cầu nguyện van xin suông mà được. Đạo Phật là nền tảng của nhân quả, muốn được quả tốt thì phải gieo nhân tốt, nếu chúng ta không thành tâm khẩn thiết thì làm sau có cảm ứng giao thoa. Cầu con gái tức là cầu được phước đức, mà phụ nữ tượng trưng cho tình cảm dạt dào, muốn giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau bất hạnh nghèo đói, thiếu thốn khó khăn, Bồ-tát phải có nhiều tiền của, nhờ vậy mới đủ sức chia sẻ nỗi khổ niềm đau cho tất cả mọi người. Khi giúp chúng sanh mà không có trí tuệ rộng lớn thì còn thấy mình là kẻ ban ơn, người là kẻ thọ ơn và vật để thọ thí. Nếu thấy như vậy thì sanh phiền muộn khổ đau, chấp trước dính mắc và dễ dàng thối Bồ đề tâm. Do đó Bồ-tát muốn vào đời để độ sanh thì phải Quán Tự Tại mới được.
Quán Thế Âm có nghĩa là quán sát xem xét lắng nghe tiếng khổ của tha nhân để tùy duyên cứu độ. Ngài luôn quán chiếu cuộc đời lắng nghe âm thanh theo nguyên lý duyên khởi, vô ngã, vị tha, nhờ vậy biết cách giúp chúng ta vượt qua sợ hãi, thoát khỏi sự ràng buộc của khổ đau.

Lời thề sâu như biển,
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn,
Theo hằng nghìn đức Phật,
Phát nguyện lớn thanh tịnh.
Nguyện nghĩa là chí nguyện độ sanh, cứu giúp chúng sanh tai qua nạn khỏi, vượt thoát khổ đau và luôn đem niềm vui đến với tất cả muôn loài. Bồ-Tát sau khi thành tựu đạo quả, nguyện dấn thân đi vào đời để lợi ích chúng sanh, đồng hành làm việc, cùng sẻ chia gánh vác, với tất cả chúng sanh.
Tu và học theo hạnh nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm dạy cho chúng ta nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống, luôn giúp mọi người sống gần gũi gắn bó với nhau, thương yêu và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dung và độ lượng, cảm thông và tha thứ, thiết lập nên năng lượng để giúp đỡ, không thấy ai là người thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Bồ-tát nghìn tay là tượng trưng cho sự dấn thân làm việc không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán vì lợi ích chúng sanh. Con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho trí tuệ thấy biết đúng như thật, nhờ vậy Bồ-tát hiểu biết và thương yêu, giúp đỡ chúng sanh một cách bình đẳng, không phân biệt người thân hay kẻ thù.

img_4795
………….
Mắt thương nhìn chúng sanh,
Ngài chính là biển phước,
Nên đảnh lễ chí thành.
Kính lạy bồ tát Quán Thế Âm.

PhienNao

Đối phó với những cảm xúc phiền não như thế nào

Định nghĩa về”tốt” và “xấu” hay “tích cực” và “tiêu cực”
Chúng ta đối phó với những cảm xúc tiêu cực như thế nào?  Đấy là một chủ đề quan trọng – là điều sẽ đưa lên câu hỏi về tích cực là gì và tiêu cực là gì.  Có bất cứ điều gì tuyệt đối là tích cực hay tuyệt đối là tiêu cực  hay không?  Tôi thật sự không biết.  Mọi thứ là lệ thuộc tương liên và mọ…i thứ có những khía cạnh khác nhau.  Một người quán sát nhìn vào điều gì đấy từ một góc độ và thấy một hình ảnh, nhưng ngay cảcùng một người quán sát, khi họ đi đến một phía khác, sẽ thấy mọi thứ từ một góc độ khác.
Thếthì, tại sao mỗi người có một cái nhìn khác biệt về thế giới?  Ô, đấy là bởi vì mỗi chúng ta nhìn vào thế giới từ một khía cạnh khác nhau.  Ngay cả cùng một đối tượng nhìn khác biệt thậm chí đến cùng một người.  Do vậy, điều gì là sự phân biệt và định nghĩa về tốt và xấu?  –  Tôi không biết.  Ngay cả một con kiến cũng không phân tích điềuấy.  Nhưng, thế  nào đấy, một con kiến biết rằng điều gì đấy giúp đời sống của nó là tốt và vì thế cho nó là tốt; và điều gì đấy nguy hiểm cho sự sống của nó và nó cảm thấy là xấu và nó chạy trốn chỗ khác.
Vậy thi, có lẻ chúng ta có thể nói rằng [vấn đề tốt hay xấu] là căn cứ trên sự sinh tồn.  Chúng ta muốn thoãi mái và hạnh phúc.  Và vì thế điều gì đấy giúp cho sựtồn tại, chúng ta cho là tốt:  điều ấy tích cực.  Điều gì tấn công chúng ta và chúng ta cảm thấy là một hiểm họa cho sự sinh tồn của chúng ta – chúng ta cảm thấy xấu: [điều ấy là tiêu cực].
Định Nghĩa về Những “Cảm Xúc Tiêu Cực”
Theo cách ấy [về việc định nghĩa tích cực và tiêu cực], sau đó về vấn đề chúng ta đối phó với những cảm xúc tiêu cực như thế nào, [chúng ta đầu tiên cần đối diện] với việc chúng ta xác định chúng như thế  nào?  Trước tiên nhất, đây là những thứ quấy nhiễu sự hòa bình nội tại của chúng ta, đó là tại sao chúng ta gọi chúng là “tiêu cực”.  Những [cảm xúc]đem đến sức mạnh và hòa bình nội tại, thì những thứ ấy là “tích cực”.
Từnhững đàm luận mà tôi đã có với những nhà khoa học, đặc biệt với nhà khoa học lớn Varela, một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã kết luận rằng lòng từ bi mạnh mẽ là một cảm xúc và lợi ích thiết yếu.  Chúng tôi đã đồng ý sau đó rằng, ngay cả tâm của Đức Phật cũng có một sốcảm xúc nào đấy trong dạng thức của từ bi; vì thế cảm xúc không nhất thiết làđiều gì đấy xấu hay tiêu cực.  Lòng từ bi vô hạn của Đức Phật – chúng ta phải xem như là một cảm xúc.  Thế nên Đức Phật là cảm xúc vô biên.  Nếu chúng ta xem từ bi là một cảm xúc, thếthì nó là rất tích cực.  Sợ hãi và thù hận, trái lại, tàn phá sự hòa bình nội tại và hạnh phúc, vì vậy chúng ta phải xem nó là những thứ tiêu cực.

img_7917

Đối Phó với những Cảm Xúc Tiêu Cực trên Căn Bản của Lý Trí
Bây giờ chúng ta đối phó với [những cảm xúc tiêu cực như] sợ hãi và thù hận như thếnào?  Chúng ta cần xem những cảm xúc tổn hại không có ý nghĩa căn bản.  Chúng đến từ một thái độ không thực tế [bệnh hoạn]; trái lại những cảm xúc tích cực thườngđến từ một căn bản lành mạnh hợp lý.  Thí dụ, một số cảm xúc nào đấy có thể được tăng trưởng qua lý trí và luận lý [logic]; do thế chúng có căn bản hợp lý vững chãi.  Một cảm xúc tiêu cực sinh khởi một cách tự động, nhưng khi chúng ta áp dụng sự phân tích và lý trí sau đó chúng giảm thiểu: chúng không có căn bản hợp lý.  Do vậy, một cảm xúc tích cực là điều gì đấy liên hệ đến thực tại, và một cảm xúc tiêu cực là căn cứ trên điều gì đấy bị bóp méo về thực tại hay vô minh si ám.
Thí dụ, khi chúng ta giận dữ với một kẻ thù, tại thời điểm sân  hận làm dường như những hành động của chúng có thể làm tổn hại tôi.  Do thế, chúng ta nghĩ rằng đây là một người xấu.  Nhưng khi chúng ta phân tích, [chúng ta nhận ra rằng] con người này không phải là một kẻ thù bẩm sinh.  Nếu họ làm tổn thương tôi, nó phải qua những lý do khác, không phải chính từ  người ấy.  Nếu người ấy thật sự là đặc trưng của “kẻ thù”, chúng phải là một kẻ thù từ khi sinh ra và họ sẽ không bao giờ trở thành một người bạn.  Nhưng, trong những hoàn cảnh khác, ho có thểtrở thành những người bạn thân của chúng ta.  Do vậy, sân hận và thù oán đối với một người là sai lầm.
Những gì sai là trong hành động của họ, không phải là người ấy.  Nhưng với lòng sân hận [chỉ căn cứ trên và vì những hành vi tiêu cực của ai đấy] là hướng trực tiếp đến người ấy.  Trái lại, lòng từ bi hầu như hướng đến con người bất chấp hành động của họ [là tiêu cực hay tích cực].  [Lòng từ bi ban rãi không phân biệt hành động của người là đúng hay sai]. Do vậy, chúng ta có thể có từ bi cho một kẻ thù trên căn bản kẻ thù ấy là một con người.
Vì thế, chúng ta phải phân biệt con người và hành động của con người.  Về phía nhân loại, con người, chúng ta có thểcó từ bi, nhưng đối với hành động chúng ta có thể có đối kháng.  Do vậy, cảm xúc tiêu cực thông thường là với một tâm ý hẹp hòi.  Nó tập trung chỉ trên một khía cạnh: [những hành động sai quấy của ai đấy].
Nhưng việc quan tâm đến từ bi, chúng ta phải thực hiện một sự phân biệt.  Có lòng từ bi căn cứ trên một nhân tốsinh  lý học.  [Loại từ bi này căn cứ trên ai đấy làm lợi ích cho chúng ta, như những bà mẹ của chúng ta, nên còn gọi là luyến ái].  Hay chúng ta nòi về lòng từ bi căn cứ trên lý trí, là điều không thiên vị hay định kiến? Từ bi căn cứ trên lý trí là thánh thiện hơn, nó không bị thành kiến – nó căn cứ trên lý trí.  Nó tập trung trên con người chứ không trên hành vi.  Một cảm xúc tiêu cực chỉ căn cứtrên hành động không hợp lý và hơn thế nữa, nó không mang đến hạnh phúc.
Phân Tích những Bất Lợi của Cảm Xúc Tiêu Cực như Sân Hận
Để đối phó với những cảm xúc tiêu cực, thế thì, điều quan trọng nhất là phân tích.  Thí dụ, có bao nhiêu lợi ích từ sựsân hận mà tôi thu được?  Sân hận đem đến nhiều năng lượng rất mạnh, điều ấy đúng.  Ngay cả trong những biểu lộ trên khuôn mặt và lời nói hằng ngày chúng ta có thể thấy điều này.  Khi chúng ta sân hận, cả hai thứ này rất xấu xí thô tháo. Chúng ta trở nên bị thúc bách để quyết định chọn những từ ngữ gay gắt cay nghiệt nhất có thể làm tổn thương người khác.  Rồi thì, khi sân hận hết đi, năng lượng rất mạnh mẽ và bạo động chìm xuống, và tâm thức thật sự cảm thấy sắc bén hơn.  Do vậy, năng lượng đem đến sân  hận là loại năng lượng mù quáng [bởi vì tâm thức không sắc bén khi chúng ta có sân hận.] Do bởi điều ấy, sân hận thật sựkhông bao giờ giúp ích; trái lại nếu chúng ta luôn luôn sử dụng sự tiếp cận thông minh, thực tiển thì điều ấy có thể giúp ích chúng ta rất nhiều.  Ngay cả trong tòa án, nếu một luật sự la hét trong giận dữ, điều ấy sẽ không giúp ích gì; trái lại nếu luật sư sử dụng sựthông minh, sau đó họ có thể đánh bại người khác.
Sân hận, thế thì, phá hoại khả năng của thông minh để thể hiện chức năng một cách rõ ràng.  Sự phán xét của chúng ta có thểbị tổn hại bởi những ngôn ngữ nói trong khi giận dữ.  Vì thế qua thông minh, chúng ta có thể thấu hiểu rằng sân hận là không lợi ích.  Nếu trong những hoàn cảnh khó khăn và đe dọa, chúng ta có thể tiến hành những hành vi truy cập qua thông minh, điều ấy lợi ích hơn.  Nói cách khác, trong khi giữ từ bi đối với người khác, chúng ta mở ra khả năng trở nên thân hữu sau  này.  Nếu chúng ta sân hận, điều ấy sẽ đóng cánh cửa của bất cứ khả năng thân hữu nào sau này.  Suy nghĩ như thế, cảm xúc tiêu cực có thể giảm thiểu.  Ngay cả nếu tái diễn lại, nó cũng sẽ yếu kém hơn.

img_7919

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma – Anh dịch: Alexander Bein.

IMG_7872

Phương pháp lạy Phật

Phương pháp lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, nhưng mang lại những lợi ích rất lớn. Ai tập cũng được, bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả. Đây là kết tinh của những kinh nghiệm tu luyện quý báu của chư tổ, đã kết hợp các phương pháp tu tập của Thiền gia và vũ thuật gia để chế tác thành.
Sự Lợi Ích

Phương pháp Lạy Phật là kết tinh của những kinh nghiệm tu tập sâu sắc từ những truyền thống đạo học đông phương. Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành trì pháp môn này vô cùng lớn lao. Sự lợi ích đó đạt được cả trên hai phương diện thân xác cũng như tinh thần.

img_4820

Về Thân: phương pháp Lạy Phật mang lại những hiệu quả sau:

1. Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể dục tốt. Với những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất cả các bắp thịt trên toàn thân đều được vận động tối đa. Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường khi thể dục chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt đồng đều cùng một lúc. Ví dụ: khi đi bộ, chúng ta vận động nhiều bắp thịt ở chân. Chỉ có bơi lội chúng ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả các bắp thịt trên cơ thể đều hoạt động làm khí huyết toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa trị các chứng thấp khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo khác..

2. Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động. Từ huyệt bách hội trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan điền, các huyệt dọc theo xương sống và các huyệt ở tay chân. Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy đều khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn ra. Theo y học đông phương, một khi các huyệt đạo trên cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu chuyển và bệnh tật sẽ tiêu trừ.

3. Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút, chúng ta sẽ có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt đạo được tác động. Sự an lạc này rất sâu sắc, một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được trong lúc thiền định. Sự an lạc này mang lại cho chúng ta niềm hoan lạc suốt ngày. Từ đó những phiền não, những ưu tư, những đau buồn… cũng nhanh chóng tan biến.

4. Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa trong truyền thống yoga Ấn Độ. Các luân xa này nằm dọc theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn tọa gồm bảy luân xa. Một khi được tác động, các luân xa này giúp chúng ta khai triển được những năng lực mầu nhiệm tiềm tàng trong mỗi người, tạo điều kiện thuận tiện cho việc phát triển tâm linh.

Về Tâm: phương pháp Lạy Phật là phương pháp điều tâm để thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ và hành động). Phương pháp này giúp ta:

1. Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng. Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tu tâm để thanh tịnh ba nghiệp. Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng duyên đều được chuyển hóa.

2. Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát. Như thế Bồ Đề Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên. Sự an lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người ghét.

3. Đức khiêm cung phát sinh: trong khi hạ mình xuống sát đất để lạy Phật, để thấy những thành đạt của mình chỉ là những giọt nước trong đại dương bao la. Bác Vũ Xuân Hoài phát biểu trong buổi thảo luận Phật pháp, để chuyển hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày bác lạy Phật để hồi hướng công đức về thiên, về địa, về sư trưởng, về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng trùng ân nghĩa. Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn của nhiều người. Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh. Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát.

Sự Hành Trì

Trong truyền thống Việt Nam, chúng ta có lạy Hồng Danh, Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Tùy theo hoàn cảnh và khả năng để áp dụng lễ lạy cho thích hợp. Điều quan trọng là sự hành trì đều đặn. Nếu chưa quen chúng ta có thể bắt đầu bằng ba mươi lạy, rồi sau đó tăng dần cho đến một trăm lẻ tám lạy (để trừ một trăm lẻ tám phiền não). Nếu có băng Hồng Danh thì mở băng và theo lời xướng danh hiệu Phật trong băng để lạy. Chúng ta có thể lạy mỗi ngày một hay hai lần.

Cách đơn giản nhất, chúng ta lạy theo hơi thở. Cứ hít vào chúng ta đứng lên và thở ra chúng ta lạy xuống. Cứ lạy chậm rãi. Mỗi lạy chúng ta niệm một danh hiệu Phật và đếm một, cứ như thế cho đến đủ số. Hoặc chúng ta có thể theo dõi đồng hồ và lạy đủ thời gian ấn định thì ngưng. Hoặc mười lăm phút, hai mươi phút hay nửa giờ. Đó là những phương cách đề nghị để chúng ta tùy nghi thực hành.

Sự lễ lạy có thể thực hiện bất kỳ chỗ nào. Miễn là chúng ta có được khoảng không gian bằng chừng chiếc chiếu là đủ để lạy rồi. Tốt nhất là trước bàn Phật, nếu không thì ở chỗ nào cũng được, miễn tâm thành là được. Ngay cả trong phòng ngủ, mỗi sáng lúc thức dậy hay mỗi tối khi đi ngủ chúng ta có thể thực tập.

Khi lạy hai tay chắp ngang trán, đưa xuống ngực rồi lạy xuống sát đất. Điều này biểu tượng cho “thân tâm cung kính lễ” (đem thân đoan nghiêm và tâm thành kính để lễ lạy). Lúc lạy xuống hay tay, hai đầu gối và trán phải chấm đất). Chúng ta nên đứng thẳng người rồi lạy xuống, sau đó đứng thẳng lên. Như thế các bắp thịt khắp châu thân được vận động tốt hơn (trừ khi yếu chân, có thể quỳ lạy).

Trong khi lạy cố gắng kết hợp cả ba phương diện:

Thân: đứng nghiêm chỉnh cử động nhịp nhàng hòa hợp, hơi thở đều đặn

Miệng: niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát

Tâm: quán tưởng đến Phật, Bồ Tát hay cảnh giới của chư Phật và Bồ Tát. Ví dụ: có thể quán tưởng đến Đức Phật A Di Đà đang ở trước mắt, hay cảnh Tịnh Độ chung quanh ta.

Kết Luận

Phương pháp lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, nhưng mang lại những lợi ích rất lớn. Ai tập cũng được, bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả. Đây là kết tinh của những kinh nghiệm tu luyện quý báu của chư tổ, đã kết hợp các phương pháp tu tập của Thiền gia và vũ thuật gia để chế tác thành.

Sự thực hành pháp môn này mang lại lợi ích rõ rệt cho cả thân lẫn tâm. Thân thể cường tráng chữa trị và phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo như bệnh tim, áp huyết cao, ung thư… Tinh thần an lạc thư thái. Sống an vui hạnh phúc trong hiện tại. Tạo điều kiện thuận tiện khai triển khả năng tâm linh vô biên để tiến tới giải thoát hoàn toàn.

Đây là một pháp môn mầu nhiệm, những niềm hoan lạc sâu sắc chúng ta kinh nghiệm được trong lúc hành trì là những bước tiến vững chắc trên bước đường tu tập. Qua những thành tựu đó giúp chúng ta tăng trưởng tín tâm đối với những pháp môn chư tổ truyền lại.

img_2584

IMG_7871

Lạy Phật cách nào cho đúng pháp?

LẠY PHẬT CÁCH NÀO CHO ĐÚNG PHÁP?
Lạy Phật theo cách “NGŨ THỂ ĐẦU ĐỊA” là thể hiện lòng tôn kính nhất.

img_4797

HỎI: Tôi được biết lạy Phật nên theo cách “ngũ thể đầu địa”, đại thể là hai chân, hai tay và đầu đụng mặt đất, tâm thanh tịnh và trang nghiêm. Tuy nhiên thực tế tôi thấy nhiều người lạy Phật với những cách thức khác nhau: Có người ngửa hai lòng bàn tay, trán cúi đặt vào lòng bàn tay. Có người thì úp hai bàn tay xuống đất, trán cúi đặt vào lưng bàn tay. Có người thì trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán. Có người khi cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc. Có người cúi lạy xuống thì ngẩng đầu lên ngay. Tôi không biết cách lạy nào đúng? Ý nghĩa của cách thức lạy ấy thế nào? Kính mong quý Báo hướng dẫn.
ĐÁP:
Các bạn thân mến!
Đúng như bạn nói, lạy Phật theo cách “ngũ thể đầu địa” là thể hiện lòng tôn kính nhất. Ngũ thể đầu địa có nghĩa là năm vóc (đầu, hai tay và hai chân) gieo sát đất. Theo Phật Quang đại từ điển, tập 3, dẫn sách Đại Đường Tây Vực ký (quyển 2), nói về cách lạy Phật “năm vóc gieo xuống đất” gồm: Trước hết, quỳ gối bên phải (gồm toàn bộ gối, cẳng chân và mu bàn chân) sát đất, kế đến là gối bên trái, rồi đến hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc, như thế gọi là một lạy.
Điều cần lưu ý là động tác “hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán”. Động tác này biểu thị cho việc hai tay người lạy nâng bàn chân của Thế Tôn cung kính đảnh lễ .
Cho nên, cách lạy này còn gọi là “đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (đầu mặt chạm chân Thế Tôn cung kính lễ lạy). Như vậy, cách lạy mà bạn mô tả “trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán” là đúng với cách lạy “ngũ thể đầu địa”.
Một điều nữa cần lưu tâm là “đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc”. Việc cúi lạy rồi “giữ yên một lúc” là rất cần thiết vì không chỉ thân mà cả tâm đều cung kính lễ. Do đó, cần một khoảng thời gian để dốc hết tâm tư cung kính lễ lạy Phật. Lạy Phật nên chậm rãi, thong thả mới trang nghiêm và thành kính. Nên, những ai “cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc” là đúng với quy cách lạy “ngũ thể đầu địa”.
Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, khi kính lễ Tam bảo năm vóc gieo sát đất có ý nghĩa nhiếp phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính:
1. Khi gối bên phải sát đất nguyện cho chúng sanh được đạo chánh giác.
2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sanh không khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chánh giác.
3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thế Tôn ngồi tòa kim cương, đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập đại Bồ-đề.
4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sanh xa lìa ngoại đạo, khiến họ vào chánh đạo.
5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sanh lìa tâm kiêu mạn, đều được thành tựu vô kiến đỉnh tướng.

img_5891

TheVADungTam

Thể và dụng của Tâm

Tất cả chúng ta đều đang sống với tâm và bằng tâm. Tùy theo chất lượng của tâm mà chúng ta có đời sống như thế nào. Nếu tâm nặng nề, hạn hẹp, ô nhiễm thì cuộc đời của chúng ta hẳn ở những cấp độ thấp, nhiều khổ đau; tâm nhẹ nhàng, rộng lớn, trong sáng thì cuộc đời của chúng ta ở những cấp độ cao, nhiều hạnh phúc. Thế nên chúng ta phải hiểu biết, kinh nghiệm tâm ở những chiều cao rộng nhất của nó. Đó chính là mục đích thật sự của đời người.
img_5095
– Thể của tâm
Luận Đại Thừa Khởi Tín của ngài Mã Minh nói:
“Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng bao trùm khắp. Pháp giới Một Tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của Như Lai, Pháp thân này còn gọi là Bản giác.
Một niệm tương ưng (với thể của tâm), biết rõ được tâm vô minh sơ khởi, tâm không còn tướng sơ khởi của vô minh. Vì xa lìa vọng niệm vi tế nên thấy được bản tánh của tâm. Chứng được tâm vốn thường trụ gọi là Cứu cánh giác.
Bởi thế trong Khế Kinh nói rằng: ‘Nếu chúng sanh quán vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về trí Phật’”.
Thể của tâm, hay bản tánh của tâm, vốn là vô niệm, nghĩa là không có tư tưởng phân biệt, chia cắt, không có vọng tưởng. Vì vô niệm, nó là thanh tịnh, các tư tưởng không thể đạt đến và phá hư bản tánh của tâm. Trong nghĩa đó, nó không thể bị nhiễm ô bởi những tư tưởng. Nó còn được gọi là Pháp thân, Bản giác, Chân Như,Phật tánh…
“Tâm này từ xưa đến nay, tự tánh vốn thanh tịnh. Chân tâm thì vốn không có phân biệt. Nhưng bởi có vô minh nên có tâm nhiễm ô. Tuy có tâm nhiễm ô, nhưng bản tánh của tâm vẫn thường hằng bất biến. Bởi thế chỉ Đức Phật mới thấu rõ nghĩa này. Bản tánh của tâm thường vô niệm nên gọi là bất biến”.
Tóm lại, thể của tâm hay bản tánh của tâm là tánh Không. Nói theo sự lập tông của Lục Tổ Huệ Năng, nó là Vô niệm, Vô tướng, và Vô trụ.
Nhưng nó không phải là một cái không có gì cả, một cái hư không vô tri; Luận Đại Thừa Khởi Tín ví nó như tấm gương sáng và có đủ tất cả các công đức:
“Lại nữa, tự thể và tự tướng của tâm Chân Như, ở nơi tất cả các phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát, chư Phật, từ xưa đến nay chưa hề tăng giảm, chẳng phải trước kia thì sanh, về sau thì diệt. Nó rốt ráo thường hằng như vậy. Từ xưa nay, tánh Chân Như vốn tự sẳn đủ tất cả công đức. Như là:
  1. Đại trí huệ quang minh
  2. Chiếu soi khắp pháp giới
  3. Chân thật rõ biết
  4. Tự tánh của tâm vốn thanh tịnh
  5. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh
  6. Tự tại trong mát không biến đổi”.
Thể của tâm, hay bản tánh của tâm, vốn vô niệm, các tư tưởng không thể làm nhiễm ô, biến chất nó được. Cái vốn giải thoát đó có sẵn và đầy đủ nơi mỗi chúng ta. Hiện giờ chúng ta đang có nó, đây là Nền Tảng cho mọi sự thực hành của chúng ta.
Tất cả các pháp tu, dù đó là Chỉ, Quán, Chỉ Quán song tu, mọi hạnh cho đến niệm Phật, trì chú, quán tưởng Bổn tôn… đều y cứ vào Nền Tảng này. Đó là Đại thừa.
– Dụng của tâm
Dụng của tâm là những tư tưởng, những xúc cảm đang khởi lên của chúng ta. Dụng của tâm là mọi biểu lộ của tâm thành tư tưởng, xúc cảm… có thể cảm nghiệm được. Chỉtiếc rằng những tư tưởng, xúc cảm ấy đều bị nhiễm ô, đều bị “cái ta và cái của ta” pha trộn đủ thứ màu sắc thương ghét, đều bị vô minh làm hôn ám, méo mó, đông cứng, tê liệt. Chính những cái làm cho nhiễm ô, méo mó này khiến chúng ta đau khổ và lạc lõng trong sanh tử.Thật ra, cái trói buộc chúng ta chính là những tư tưởng và xúc cảm bị méo mó của chúng ta. Sanh tử chính là những tư tưởng và xúc cảm bị méo mó của chúng ta, chứbản thân sanh tử không hề có.
Thế nên, chúng ta phải chuyển hóa chúng, tịnh hóa chúng khỏi bị nhiễm ô, đưa chúng trở lại thật thể và thật dụng của nó. Nói theo hệ thống Duy Thức, sự chuyển hóaấy là: A-lại-da thức chuyển thành (hay chuyển trở về, chuyển lại) Đại viên cảnh trí, Mạt-na-thức chấp ngã chuyển thành Bình đẳng tánh trí, ý thức phân biệt chuyển thành Diệu quan sát trí, và năm thức giác quan chuyển thành Thành sở tác trí. Đây là sự chuyển giả về chân, chuyển vọng về thật… của Đại thừa. Nền tảng và kết quả của sự chuyển hóa này y cứ trên sự thật là thể và dụng chỉ là một, như sóng và nước đại dương là một, như bóng trong gương và gương là một.
Ai cũng có dụng của tâm, phàm cũng như thánh. Nhưng không biết (vô minh) dụng ấy của tâm sẽ đưa chúng ta vào sanh tử khổ đau. Còn tịnh hóa được nhiễm ô, thấu rõ được, thì những dụng của tâm ấy sẽ đưa chúng ta trở lại thật tướng của sanh tử là Niết-bàn an lạc.
Về thật dụng của tâm, Luận Khởi Tín nói:
“Thể và tướng (hay dụng) của tánh giác này đồng như hư không, giống như tấm gương sáng sạch.
Gương này có nghĩa Như Thật Bất Không, tất cả cảnh giới thế gian đều hiện trong đó, chẳng ra chẳng vào, không mất không hoại. Đó là Nhất Tâm thường trụ, trong đó tất cả các pháp chính là thật tánh vậy”.
“Tất cả cảnh giới, từ xưa đến nay, vốn là Nhất Tâm, lìa tất cả mọi tưởng niệm. Chỉ vì chúng sanh mê vọng thấy ra cảnh giới, cho nên tâm có phân biệt, chia cắt. Vì vọng khởi các tưởng niệm, chẳng tương ưng với pháp tánh, nên mê mờ chẳng thể thấu hiểu rõ ràng.
Chư Phật Như Lai đã lìa mọi cái thấy, mọi tưởng, nên tâm không chỗ nào không hiện diện. Tâm chân thật ấy là tánh của tất cả các pháp. Tự thể chiếu soi rõ suốt tất cả các pháp, có đại trí dụng vô lượng phương tiện, tùy chúng sanh hợp với chỗ hiểu nào đều có thể khai thị mọi nghĩa của Pháp, cho nên được gọi là Nhất thiết chủng trí”.
Cũng một thể và dụng của Nhất Tâm , nhưng chúng sanh thì biết một cách sai lầm, sử dụng một cách sai lầm, mà càng lúc càng lạc xa khỏi thật tánh của tất cả các pháp chính là Nhất Tâm ấy.
“Thế nên, tất cả chúng sanh không được gọi là Giác, bởi vì từ xưa đến giờ niệm niệm tương tục, chưa từng lìa niệm, đó gọi là vô minh vô thủy.
Nếu được vô niệm thì biết tướng sanh trụ dị diệt của tâm (của các niệm) đồng với vô niệm. Thật ra bản giác vô niệm này không khác với thủy giác. Chỉ do bốn tướng sanh trụ dị diệt cùng lúc nương nhau mà có, đều không tự lập (đều vô tự tánh). Tâm (vô niệm hay hữu niệm) xưa nay vốn bình đẳng, đồng một tánh Giác”.
Niệm sanh trụ dị diệt đều duyên sanh vô tự tánh, thấy được sự vô tự tánh của tất cảcác niệm thì ngay đó niệm vốn giải thoát.
img_6715
Nói cách khác, niệm sanh trụ dị diệt đồng với vô niệm, niệm đồng với vô niệm thì niệm vốn giải thoát.
“Tất cả các pháp đều từ tâm mà khởi, từ vọng tâm mà sanh. Thế nên tất cả phân biệt là phân biệt trong tâm và của tâm. Nhưng tâm thì không thể thấy, không có hình tướng gì để có thể đắc. Phải biết tất cả cảnh giới của thế gian đều do vọng tâm vô minh của chúng sanh mà tồn tại. Thế nên tất cả pháp, như bóng trong gương, không có thật thể để đắc, chỉ là tâm hư vọng. Tâm sanh thì mọi thứ pháp sanh, tâm diệt thì mọi thứ pháp diệt”.
Tất cả tướng và tưởng là do phân biệt sanh, sự vọng sanh này là của tâm và ở trong tâm. Nhưng tâm “không có tướng gì để đắc”, nên tất cả các tướng và tưởng cũng không có tướng gì để đắc. Tâm vô tự tánh, vô tướng nên tất cả các tướng và tưởng, dù chân hay dù vọng, là vô tự tánh và vô tướng, nghĩa là chúng vốn giải thoát.
Tâm sanh thì mọi thứ pháp sanh, tâm diệt thì các thứ pháp diệt. Nhưng tâm vốn là vô sanh, nên các tướng và tưởng cũng là vô sanh. Thể của tâm vốn là giải thoát, thế nên dụng của tâm cũng vốn là giải thoát.
Như vậy, những pháp môn của Phật giáo, dù chỉ, quán, chỉ quán song tu hay các Ba-la-mật, các hạnh, các thực hành khác… đều nhằm mục đích thấy được thật thể và thật dụng của tâm, hay dùng một thuật ngữ khác, thấy cho được thật tánh và thật tướng của tâm. Chính cái thấy này đưa chúng ta đến giải thoát và giác ngộ.
Vềvấn đề này, Guru Padmasambhava, trong bối cảnh của Đại Toàn Thiện (Dzogchen), thừa cao nhất trong hệ thống Mật giáo của ngài, đã nói như sau:
Quả thật, bản tánh của tâm thì trống không và không có nền tảng nào cả.Tự tâm con thì không chất thể như bầu trời trống không.Chỉ để những tư tưởng ở trong thật tướng của chúng,Không cố gắng sửa sang chỉnh trịchúng, thế là đủ.Bởi vì sự sanh khởi của những tư tưởng và sự được giải thoát của chúng xảy ra đồng thời.Những hình tướng trống không trong chính chúng, trở nên tự giải thoát:Tịnh quang và tánh Không bất khả phân là Pháp thân.Bản thân những hình tướng thì không có lầm lỗi, nhưng do bởi sự bám níu của con vào chúng, mà có những lầm lỗi.Nhưng nếu con biết rằng những tư tưởng bám lấy sự vật ấy là tâm, bấy giờ chúng sẽ được giải thoát bởi tự chúngMọi sự xuất hiện chỉ là một biểu lộcủa tâm.Quả thật tất cả những hình tướng xuất hiện được giải thoát vào thực tánh của chúng.Giống như những đám mây trong bầu trời là tự phát sanh và tự giải thoát.Giống như những làn sóng và nước đại dương không phải là hai.Bất cứ những tư tưởng nào sanh khởi đều được giải thoát vào trong trạng thái vô niệm tự nhiên của tâm.(Self-liberation through seeing with Naked Awareness, Tựgiải thoát qua sự thấy với tánh Giác trần trụi, của Padmasambhava, Vajranatha dịch, Snow Lion 2000).
Chính vì sự bám giữ của chúng ta vào các hình tướng, không để cho chúng theo như bản chất của chúng là tự giải thoát vào trong thật tánh của chúng, mà có ra sanh tử đối với chúng ta. Chính vì không để cho những tư tưởng y như chúng là, như những làn sóng vốn là nước và có sanh có diệt cũng chỉ là nước. Thậm chí sự sanh khởi của chúng và sự diệt, sự được giải thoát của chúng xảy ra đồng thời. Chính vì không để cho nhữngđám mây tư tưởng tự giải thoát, tự tan biến trong bầu trời của tâm, mà cứ cố gắng sửa chữa chỉnh trị hay phá tan chúng mà những đám mây vốn vô tự tánh trở thành có thực, từ đó sanh tử trở thành có thực.
Một cách cụ thể, nếu chúng ta luôn luôn an trụ trong bầu trời của tâm, những đám mây tư tưởng sẽ tự chúng giải thoát, sẽ tự tan biến vào trong bản chất của chính chúng là bầu trời.
Vì không tin, không trực tiếp thể nghiệm, cho nên không thấy thể của tâm vốn là vô niệm, như bầu trời trong sáng mà không một đám mây tư tưởng nào làm nhiễm ô được, che lấp được, nên chúng ta không sống được Bản giác hay Pháp thân vốn thường trụ tại đây và bây giờ của chúng ta. Vì không tin cho nên không thấy dụng của tâm là những tư tưởng mà “sự sanh trụ dị diệt của chúng đồng với vô niệm”, nghĩa là vốn tự giải thoát, như những đám mây tự sanh tự diệt trong bầu trời, thế nên chúng ta không sống được cái dụng thanh tịnh của tâm: “tâm định hay không định, có tướng hay không tướng, xưa nay vốn bình đẳng, đồng một tánh giác”.
Thể của tâm là tánh Không, dụng của tâm là sắc thọ tưởng hành thức. Trong thật tướng, dụng và thể là một, “sắc tức thị Không”, “thức tức là Trí”. Nếu không có dụng của tâm là sắc, nếu không có sắc thì không có gì để học hiểu Không và để Không có thể hiển bày với chúng ta. Nếu không có dụng của tâm là thức thì không có gì để thấy Không, hay Trí. Nếu không có bóng (trong gương) thì không có gì để gương tự hiển bày. Nếu không có sóng thì cũng khó có thể thấy nước của đại dương.
Cáiđầu tiên của số phận con người là kinh nghiệm sanh tử và cũng chính sanh tử là cái trói buộc con người làm con người luân hồi liên tục không dứt. Nhưng cũng nhờ chính sanh tử mà con người có thể nhìn thấy thật tướng của sanh tử là Niết-bàn, và do đó có tự do giải thoát.
Người theo Đại thừa không vội vã bỏ cái dụng của tâm, không vội vàng bỏ chạy khi thấy con rắn, mà thực ra chỉ là sợi dây thừng. Người ấy thực hành để dần dần nhìn ra thể của dụng, thật tánh và thật tướng của dụng, và do đó sử dụng cái dụng này đúng đắn hơn, rõ biết thật tướng của dụng, để từ đó mà có tự giác, giác tha. Khi ấy dụng của tâm chính là cái mà Đại thừa gọi là “phương tiện thiện xảo”.
Chúng ta trở lại với Thiền tông Việt Nam mà cốt lõi của nó là rõ tâm: “cốt chỉ rõ tâm” (Trần Thái Tông, Phổ khuyến phát Bồ-đề tâm).
img_3871
Về thể và dụng của tâm, chúng ta chỉ trích đoạn đầu trong bài Phật Tâm ca của Huệ Trung thượng sĩ:
 
Phật! Phật! Phật! Không thể thấy!
Tâm! Tâm! Tâm! Không thể thuyết!
Nếu tâm sanh, đó tức Phật sanh
Nếu Phật diệt, đó tức tâm diệt
Diệt tâm còn Phật làm sao có
Diệt Phật còn tâm bao giờ xong
Muốn biết tâm Phật, tâm diệt sanh
Hãy chờ mai sau Di Lặc quyết.
Xưa không tâm
Nay không Phật
Phàm thánh trời người như ánh chớp
Thể tâm không thị cũng không phi
Tánh Phật chẳng hư cũng chẳng thực
Bỗng nhiên khởiBỗng nhiên dừng
Qua lại xưa nay giả vòng vo
Đâu chỉ thừa tổ tông mai một
Lại khiến yêu ma loạn trong nhà.
Muốn cầu tâmChớ ngoài tìm
Bản thể như nhiên tự không tịch
Niết-bàn sanh tử buộc ràng suông
Phiền não Bồ-đề không đối địch.
Tâm tức PhậtPhật tức tâm
Diệu chỉ linh minh suốt cổ kim
Xuân đến tự là hoa cười mỉm
Thu về đâu chẳng nước thu trong
Bỏ vọng tâm
Giữ chân tánh
Như người bỏ gương mà tìm bóng
Nào hay bóng hiện ở trong gương
Chẳng biết vọng từ trong chân hiện
Vọng đến không thực cũng không hư
Gương nhận không tà cũng không chánh… 
 
(Ng-Thế-Đăng)