tv-linh-son-phap-bao-phat-dan-1

Lễ Phật Đản 2560 tại Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo, California, Hoa Kỳ

WESTMINSTER (VB) – Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo do Thượng Tọa Thích Tâm Bình làm Trú Trì, tọa lạc tại thành phố Westminster đã trang nghiêm cử hành Lễ Khánh Đản Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện ra đời và Lễ An Vị Phật tại Chánh Điện vào chiều Thứ Bảy, ngày 14 tháng 5 năm 2016, với sự quang lâm chứng minh và tham dự của chư tôn đức Tăng, Ni và đồng hương Phật Tử.

Thượng Tọa Thích Tâm Bình, Trú Trì Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo, là đệ tử xuất gia của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Ý, Giám Viện Phật Học Viện Linh Sơn Pháp Bảo ở Nha Trang. Phật Học Viện này là nơi đào tạo Tăng, Ni trẻ bậc Sơ Đẳng nổi tiếng toàn quốc của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước năm 1975. Có lẽ để báo đáp ân sư và tưởng nhớ đến nguồn cội xuất gia, nên Thượng Tọa Thích Tâm Bình đã đặt tên Chùa là Linh Sơn Pháp Bảo. Thượng Tọa là vị Tăng trẻ có tài và nhiệt huyết với đạo pháp. Thượng Tọa đã làm Trưởng Ban Thiết Trí Lễ Đài cho Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2560 do GHPGVNTNHK và Cộng Đồng PGVN Nam California tổ chức tại Mile Square Park vào đầu tháng 5 vừa rồi.

Lễ An Vị Đức Phật Trung Tôn Thích Ca Mâu Ni tại Chánh Điện Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo diễn ra thật trang nghiêm với sự chứng minh và chủ lễ của Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, Viện Chủ Chùa Bát Nhã, Phó Chủ Tịch Nội Vụ Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK và hàng chục chư tôn đức Tăng, Ni khác.

tv-linh-son-phap-bao-phat-dan-2

Lời bài Tựa Kinh Thủ Lăng Nghiêm được đại chúng đồng tụng với giọng ngân nga ấm áp và thiền vị làm cho người nghe thâm nhập vào thế giới vi diệu của đại nguyện độ sinh được cất cao bởi ngài A Nan:

“Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập,
Như nhứt chúng sinh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn…”

(Đời ác năm trược con xin nguyện vào trước
Như còn một chúng sinh nào chưa thành Phật,
Con nguyện vĩnh viễn không thủ chứng Niêt Bàn,)

tv-linh-son-phap-bao-phat-dan-3

Buổi Lễ An Vị kết thúc với phần chư tôn Hòa Thượng đi nhiễu quanh Chánh Điện và rải nước cam lộ sái tịnh đạo tràng. Từ nay, nơi này là một đạo tràng thanh tịnh như chốn Linh Sơn Pháp Bảo cho Tăng, Ni và Phật tử đồng tu và hành đạo nơi xứ người.

Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2560 bắt đầu với phần niệm Phật cầu gia bị và phút nhập từ bi quán do Đại Đức Thích Quảng Văn làm MC điều hợp.

tv-linh-son-phap-bao-phat-dan-4

Trong phần Diễn Văn Khai Mạc, Thượng Tọa Trú Trì Thích Tâm Bình đã xưng tụng ngày Đản Sinh của đức Phật vì Ngài đã “vì hạnh phúc cho số đông, vì an lạc hòa bình cho số đông, vì long thương tưởng cho đời, vì lợi ích cho chư thiên và loài người,” mà thị hiện ra đời. Thượng Tọa cũng đã nhắc nhở rằng, “Kính mừng Ngày Khánh Đản của Ngài, không phải chúng ta chỉ nói suông, mà tất cả chúng ta phải thể hiện bằng hành động thiết thực, bằng cách chúng ta thể hiện hạnh từ bi, thương xót tất cả mọi người chung quanh chúng ta đang còn thiếu thốn khổ đau, chúng ta giúp đỡ cơm ăn thuốc uống, áo quần nhà cửa che thân. Thực hành hạnh hỷ xả, là chúng ta phải biết cởi trói hận thù, xả bỏ cố chấp, tỵ hiềm ganh tị, thay vào đó bằng tâm lượng bao dung, che chở, săn sóc, chia xẻ phẩm hạnh trí đức yêu thương của chúng ta với mọi người,…”

tv-linh-son-phap-bao-phat-dan-5

Chư tôn đức Tăng, Ni và đồng hương Phật tử tham dự Lễ cũng đã lắng nghe Thông Điệp Phật Đản Phật Lịch 2560 của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama gửi đến toàn thể Tăng, Ni và Phật tử tại Hoa Kỳ nhân Đại Lễ Vesak qua lời đọc của Hòa Thượng Thích Thông Hải, Viện Chủ Thiền Viện Chơn Không, Hawaii, và Tu Viện An Lạc, Ventura, California, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Xã Hội của Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK. Trong Thông Điệp được Tịnh Thủy dịch sang Việt ngữ, có đoạn nói rằng, “Vesak là một ngày đặc biệt đối với hàng triệu triệu Phật tử trên khắp thế giới nhằm tưởng nhớ ngày sinh, thành đạo và Niết bàn của Đức Phật. Tại các ngôi chùa trên khắp thế giới, người Phật tử dành thời gian này để cầu nguyện, tưởng niệm và suy ngẫm các giá trị về trí tuệ, sự can đảm, và lòng từ bi. Bằng những việc làm cụ thể và đầy tinh thần khiêm nhường, những người con Phật thuộc nhiều truyền thống khác nhau đã đóng góp vào sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo được xác định bởi toàn thể nhân loại.”

tv-linh-son-phap-bao-phat-dan-6

Phần Nghi Thức Khánh Đản sau đó ngắn gọn nhưng đạo vị và sâu lắng trong tâm thức người con Phật vào dịp Lễ Đản Sinh lần thứ 2560 của Ngài.

Sau các nghi thức đại lễ hoàn mãn, Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo đã cúng dường trai tăng cho chư tôn đức Tăng, Ni và đãi cơm chay buổi chiều cho đồng hương Phật tử.

Tu Viện Linh Sơn Pháp Bảo tọa lạc tại địa chỉ: 8962 Emerald Avenue, Westminster, CA 92683 (góc Đường Magnolia và Emerald). Điện thoại: 714-625-0518.

Source: https://vietbao.com

sucdieutriquanam

Sức diệu trí quán âm

“Sức diệu trí quán âm…
Cứu đời thoát ly khổ.”
– Quán thế âm nghĩa là quán xét âm thanh của thế gian mà đến cứu độ. Cái diệu trí quán sát âm thanh kia trong câu kệ trên.
Diệu trí tức là đại trí phương tiện khởi được diệu dụng lợi tha, sau khi đã chứng được hậu đắc trí. Diệu trí cũng tức là diệu dụng của căn bản trí. Có đủ đại trí này, nên mới có thần lực diệu dụng cứu khổ cho thế gian. Phương tiện diệu dụng có “Quán dụng của Trí và Âm dụng của Bi.” Hai đức Bi Trí đến mức viên mãn cùng tột. Trên con đường viên mãn hóa hai đức Bi & Trí, các vị bồ tát hòa mình với chúng sanh và tùy theo từng cơ duyên mà hóa độ. Vì vậy, các ngài lấy công hạnh làm phương sở y cứ. Như ngài Văn Thù lấy Đại trí làm yếu chỉ, ngài Địa Tạng lấy Đại nguyện làm phương châm, ngài Thế Chí lấy Đại dũng, ngài Phổ Hiền lấy Đại hạnh v.v…
Nhưng Đại Bi là nồng cốt, không có đại bi tâm thì không có hạnh nguyện đạt được hoàn mãn trên đường lợi tha.
Vì thế mà trong các đức Bồ tát, đức Quán thế âm có nhiều oai lực, thần lực Đại bi nhiều nhân duyên cơ cảm hơn hết đối với loài hữu tình trong thế giới chúng ta.
“Chơn quán – Thanh tịnh quán
Quảng đại trí tuệ quán….”
Vì thế dùng Diệu Trí quán chơn tánh nên biết Phật chúng sanh một thể Từ Bi bình đẳng không hai. Quán ấy gọi là Chơn quán.

fullsizerender

Diệu Trí quán tịnh pháp biết các tịnh pháp bổn lai vốn không tương ưng với nhiễm pháp, vì thế lìa cả hai chướng Ngã và Ngã sở. Quán ấy gọi là Thanh tịnh quán.
Dung thông diệu dụng trong các tịnh pháp thấu suốt được chân lý tương đối, tuyệt đối của tục đế và chân đế, rốt ráo viên dung nên gọi quán ấy là Quảng đại trí tuệ quán.

Chính vì phải giác ngộ cả hai phương diện nhận thức (trí huệ) và siêu hình (thực tại tuyệt đối bất khả tư nghì) mà các vị bồ tát tự hạ mình, đưa mình từ cảnh giới trí tuệ siêu phàm xuống cõi thế gian rối ren ràng buộc và thiếu kém này, ngay nơi giải thoát của các ngài, để giải thoát những chúng sanh đang bị trầm luân. Các ngài tự nguyện sống trong trần là chỉ vì muốn san sẻ cái kiến thức tuệ giác và đời sống giác ngộ của mình với tất cả chúng sanh đau khổ.

Quán Thế Âm còn có nghĩa là Quán Tự Tại.
Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy: Sáu căn là nhân của luân hồi sanh tử và sáu căn cũng là nhân của giải thoát. Sau khi Phật bảo 25 vị Thánh trình bày chỗ tu chứng của mình xong, Phật dạy Bồ-tát Văn thù chọn lựa căn viên thông để tu. Cuối cùng Bồ-tát chọn lựa “Nhĩ căn” là viên thông hơn cả.
Đây là lối tu: “Phản văn văn tự tánh” của Bồ-tát Quán Thế Âm. Chữ phản ở đây có nghĩa là ngược lại, thay vì từ xưa đến giờ chúng ta chạy theo âm thanh, có tiếng là có nghe, không tiếng là không nghe, quên mất tánh nghe thường hằng của mình. Bây giờ biết rồi, chỉ nhớ mình có tánh nghe, nghe tất cả mà không bám vào âm thanh riêng biệt nào. Cho nên Bồ-tát Văn Thù khuyên đại chúng và ngài A-nan: “Xoay cơ quan nghe của mình, trở lại nghe tánh nghe của mình, thành tựu tánh nghe là đạo vô thượng. Đây là con đường vào cửa Niết-bàn của tất cả chư Phật nhiều như số vi trần.

img_6557

Nên kinh nói trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, công đức thù thắng hơn tất cả. Vậy, chúng ta trì niệm bằng cách nào? Nghĩa là phản quán lại tánh nghe chân thật của mình, nên không bị âm thanh bên ngoài chi phối, do đó hằng sống với tánh nghe. Trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm là phương pháp tu tập quán chiếu cuộc đời, để thấy rõ được bản chất thật hư của nó; nên mỗi hành giả tự độ mình, vượt qua các khổ đau đang có mặt.
Mục đích chính của kinh là độ thoát tất cả chúng sinh, trừ tai nạn trong đời và thực hiện sự cầu vi diệu mà trong kinh nói: “Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái”. Vì bài kinh mang ẩn dụ cao siêu, chỉ cần người tin tưởng niệm danh hiệu Bồ-tát là đã có lợi lạc ngay tại đây và bây giờ. Huống hồ là chúng ta chí thiết thành khẩn “niệm” tinh chuyên miên mật không gián đoạn, thì kết quả sẽ được y như nguyện.
Cầu con trai tức là cầu được trí tuệ rộng lớn, vì con trai tượng trưng cho lý trí mà muốn có trí tuệ thì phải tu tập thiền định, chứ không thể nào cầu nguyện van xin suông mà được. Đạo Phật là nền tảng của nhân quả, muốn được quả tốt thì phải gieo nhân tốt, nếu chúng ta không thành tâm khẩn thiết thì làm sau có cảm ứng giao thoa. Cầu con gái tức là cầu được phước đức, mà phụ nữ tượng trưng cho tình cảm dạt dào, muốn giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau bất hạnh nghèo đói, thiếu thốn khó khăn, Bồ-tát phải có nhiều tiền của, nhờ vậy mới đủ sức chia sẻ nỗi khổ niềm đau cho tất cả mọi người. Khi giúp chúng sanh mà không có trí tuệ rộng lớn thì còn thấy mình là kẻ ban ơn, người là kẻ thọ ơn và vật để thọ thí. Nếu thấy như vậy thì sanh phiền muộn khổ đau, chấp trước dính mắc và dễ dàng thối Bồ đề tâm. Do đó Bồ-tát muốn vào đời để độ sanh thì phải Quán Tự Tại mới được.
Quán Thế Âm có nghĩa là quán sát xem xét lắng nghe tiếng khổ của tha nhân để tùy duyên cứu độ. Ngài luôn quán chiếu cuộc đời lắng nghe âm thanh theo nguyên lý duyên khởi, vô ngã, vị tha, nhờ vậy biết cách giúp chúng ta vượt qua sợ hãi, thoát khỏi sự ràng buộc của khổ đau.

Lời thề sâu như biển,
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn,
Theo hằng nghìn đức Phật,
Phát nguyện lớn thanh tịnh.
Nguyện nghĩa là chí nguyện độ sanh, cứu giúp chúng sanh tai qua nạn khỏi, vượt thoát khổ đau và luôn đem niềm vui đến với tất cả muôn loài. Bồ-Tát sau khi thành tựu đạo quả, nguyện dấn thân đi vào đời để lợi ích chúng sanh, đồng hành làm việc, cùng sẻ chia gánh vác, với tất cả chúng sanh.
Tu và học theo hạnh nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm dạy cho chúng ta nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống, luôn giúp mọi người sống gần gũi gắn bó với nhau, thương yêu và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dung và độ lượng, cảm thông và tha thứ, thiết lập nên năng lượng để giúp đỡ, không thấy ai là người thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Bồ-tát nghìn tay là tượng trưng cho sự dấn thân làm việc không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán vì lợi ích chúng sanh. Con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho trí tuệ thấy biết đúng như thật, nhờ vậy Bồ-tát hiểu biết và thương yêu, giúp đỡ chúng sanh một cách bình đẳng, không phân biệt người thân hay kẻ thù.

img_4795
………….
Mắt thương nhìn chúng sanh,
Ngài chính là biển phước,
Nên đảnh lễ chí thành.
Kính lạy bồ tát Quán Thế Âm.

PhienNao

Đối phó với những cảm xúc phiền não như thế nào

Định nghĩa về”tốt” và “xấu” hay “tích cực” và “tiêu cực”
Chúng ta đối phó với những cảm xúc tiêu cực như thế nào?  Đấy là một chủ đề quan trọng – là điều sẽ đưa lên câu hỏi về tích cực là gì và tiêu cực là gì.  Có bất cứ điều gì tuyệt đối là tích cực hay tuyệt đối là tiêu cực  hay không?  Tôi thật sự không biết.  Mọi thứ là lệ thuộc tương liên và mọ…i thứ có những khía cạnh khác nhau.  Một người quán sát nhìn vào điều gì đấy từ một góc độ và thấy một hình ảnh, nhưng ngay cảcùng một người quán sát, khi họ đi đến một phía khác, sẽ thấy mọi thứ từ một góc độ khác.
Thếthì, tại sao mỗi người có một cái nhìn khác biệt về thế giới?  Ô, đấy là bởi vì mỗi chúng ta nhìn vào thế giới từ một khía cạnh khác nhau.  Ngay cả cùng một đối tượng nhìn khác biệt thậm chí đến cùng một người.  Do vậy, điều gì là sự phân biệt và định nghĩa về tốt và xấu?  –  Tôi không biết.  Ngay cả một con kiến cũng không phân tích điềuấy.  Nhưng, thế  nào đấy, một con kiến biết rằng điều gì đấy giúp đời sống của nó là tốt và vì thế cho nó là tốt; và điều gì đấy nguy hiểm cho sự sống của nó và nó cảm thấy là xấu và nó chạy trốn chỗ khác.
Vậy thi, có lẻ chúng ta có thể nói rằng [vấn đề tốt hay xấu] là căn cứ trên sự sinh tồn.  Chúng ta muốn thoãi mái và hạnh phúc.  Và vì thế điều gì đấy giúp cho sựtồn tại, chúng ta cho là tốt:  điều ấy tích cực.  Điều gì tấn công chúng ta và chúng ta cảm thấy là một hiểm họa cho sự sinh tồn của chúng ta – chúng ta cảm thấy xấu: [điều ấy là tiêu cực].
Định Nghĩa về Những “Cảm Xúc Tiêu Cực”
Theo cách ấy [về việc định nghĩa tích cực và tiêu cực], sau đó về vấn đề chúng ta đối phó với những cảm xúc tiêu cực như thế nào, [chúng ta đầu tiên cần đối diện] với việc chúng ta xác định chúng như thế  nào?  Trước tiên nhất, đây là những thứ quấy nhiễu sự hòa bình nội tại của chúng ta, đó là tại sao chúng ta gọi chúng là “tiêu cực”.  Những [cảm xúc]đem đến sức mạnh và hòa bình nội tại, thì những thứ ấy là “tích cực”.
Từnhững đàm luận mà tôi đã có với những nhà khoa học, đặc biệt với nhà khoa học lớn Varela, một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã kết luận rằng lòng từ bi mạnh mẽ là một cảm xúc và lợi ích thiết yếu.  Chúng tôi đã đồng ý sau đó rằng, ngay cả tâm của Đức Phật cũng có một sốcảm xúc nào đấy trong dạng thức của từ bi; vì thế cảm xúc không nhất thiết làđiều gì đấy xấu hay tiêu cực.  Lòng từ bi vô hạn của Đức Phật – chúng ta phải xem như là một cảm xúc.  Thế nên Đức Phật là cảm xúc vô biên.  Nếu chúng ta xem từ bi là một cảm xúc, thếthì nó là rất tích cực.  Sợ hãi và thù hận, trái lại, tàn phá sự hòa bình nội tại và hạnh phúc, vì vậy chúng ta phải xem nó là những thứ tiêu cực.

img_7917

Đối Phó với những Cảm Xúc Tiêu Cực trên Căn Bản của Lý Trí
Bây giờ chúng ta đối phó với [những cảm xúc tiêu cực như] sợ hãi và thù hận như thếnào?  Chúng ta cần xem những cảm xúc tổn hại không có ý nghĩa căn bản.  Chúng đến từ một thái độ không thực tế [bệnh hoạn]; trái lại những cảm xúc tích cực thườngđến từ một căn bản lành mạnh hợp lý.  Thí dụ, một số cảm xúc nào đấy có thể được tăng trưởng qua lý trí và luận lý [logic]; do thế chúng có căn bản hợp lý vững chãi.  Một cảm xúc tiêu cực sinh khởi một cách tự động, nhưng khi chúng ta áp dụng sự phân tích và lý trí sau đó chúng giảm thiểu: chúng không có căn bản hợp lý.  Do vậy, một cảm xúc tích cực là điều gì đấy liên hệ đến thực tại, và một cảm xúc tiêu cực là căn cứ trên điều gì đấy bị bóp méo về thực tại hay vô minh si ám.
Thí dụ, khi chúng ta giận dữ với một kẻ thù, tại thời điểm sân  hận làm dường như những hành động của chúng có thể làm tổn hại tôi.  Do thế, chúng ta nghĩ rằng đây là một người xấu.  Nhưng khi chúng ta phân tích, [chúng ta nhận ra rằng] con người này không phải là một kẻ thù bẩm sinh.  Nếu họ làm tổn thương tôi, nó phải qua những lý do khác, không phải chính từ  người ấy.  Nếu người ấy thật sự là đặc trưng của “kẻ thù”, chúng phải là một kẻ thù từ khi sinh ra và họ sẽ không bao giờ trở thành một người bạn.  Nhưng, trong những hoàn cảnh khác, ho có thểtrở thành những người bạn thân của chúng ta.  Do vậy, sân hận và thù oán đối với một người là sai lầm.
Những gì sai là trong hành động của họ, không phải là người ấy.  Nhưng với lòng sân hận [chỉ căn cứ trên và vì những hành vi tiêu cực của ai đấy] là hướng trực tiếp đến người ấy.  Trái lại, lòng từ bi hầu như hướng đến con người bất chấp hành động của họ [là tiêu cực hay tích cực].  [Lòng từ bi ban rãi không phân biệt hành động của người là đúng hay sai]. Do vậy, chúng ta có thể có từ bi cho một kẻ thù trên căn bản kẻ thù ấy là một con người.
Vì thế, chúng ta phải phân biệt con người và hành động của con người.  Về phía nhân loại, con người, chúng ta có thểcó từ bi, nhưng đối với hành động chúng ta có thể có đối kháng.  Do vậy, cảm xúc tiêu cực thông thường là với một tâm ý hẹp hòi.  Nó tập trung chỉ trên một khía cạnh: [những hành động sai quấy của ai đấy].
Nhưng việc quan tâm đến từ bi, chúng ta phải thực hiện một sự phân biệt.  Có lòng từ bi căn cứ trên một nhân tốsinh  lý học.  [Loại từ bi này căn cứ trên ai đấy làm lợi ích cho chúng ta, như những bà mẹ của chúng ta, nên còn gọi là luyến ái].  Hay chúng ta nòi về lòng từ bi căn cứ trên lý trí, là điều không thiên vị hay định kiến? Từ bi căn cứ trên lý trí là thánh thiện hơn, nó không bị thành kiến – nó căn cứ trên lý trí.  Nó tập trung trên con người chứ không trên hành vi.  Một cảm xúc tiêu cực chỉ căn cứtrên hành động không hợp lý và hơn thế nữa, nó không mang đến hạnh phúc.
Phân Tích những Bất Lợi của Cảm Xúc Tiêu Cực như Sân Hận
Để đối phó với những cảm xúc tiêu cực, thế thì, điều quan trọng nhất là phân tích.  Thí dụ, có bao nhiêu lợi ích từ sựsân hận mà tôi thu được?  Sân hận đem đến nhiều năng lượng rất mạnh, điều ấy đúng.  Ngay cả trong những biểu lộ trên khuôn mặt và lời nói hằng ngày chúng ta có thể thấy điều này.  Khi chúng ta sân hận, cả hai thứ này rất xấu xí thô tháo. Chúng ta trở nên bị thúc bách để quyết định chọn những từ ngữ gay gắt cay nghiệt nhất có thể làm tổn thương người khác.  Rồi thì, khi sân hận hết đi, năng lượng rất mạnh mẽ và bạo động chìm xuống, và tâm thức thật sự cảm thấy sắc bén hơn.  Do vậy, năng lượng đem đến sân  hận là loại năng lượng mù quáng [bởi vì tâm thức không sắc bén khi chúng ta có sân hận.] Do bởi điều ấy, sân hận thật sựkhông bao giờ giúp ích; trái lại nếu chúng ta luôn luôn sử dụng sự tiếp cận thông minh, thực tiển thì điều ấy có thể giúp ích chúng ta rất nhiều.  Ngay cả trong tòa án, nếu một luật sự la hét trong giận dữ, điều ấy sẽ không giúp ích gì; trái lại nếu luật sư sử dụng sựthông minh, sau đó họ có thể đánh bại người khác.
Sân hận, thế thì, phá hoại khả năng của thông minh để thể hiện chức năng một cách rõ ràng.  Sự phán xét của chúng ta có thểbị tổn hại bởi những ngôn ngữ nói trong khi giận dữ.  Vì thế qua thông minh, chúng ta có thể thấu hiểu rằng sân hận là không lợi ích.  Nếu trong những hoàn cảnh khó khăn và đe dọa, chúng ta có thể tiến hành những hành vi truy cập qua thông minh, điều ấy lợi ích hơn.  Nói cách khác, trong khi giữ từ bi đối với người khác, chúng ta mở ra khả năng trở nên thân hữu sau  này.  Nếu chúng ta sân hận, điều ấy sẽ đóng cánh cửa của bất cứ khả năng thân hữu nào sau này.  Suy nghĩ như thế, cảm xúc tiêu cực có thể giảm thiểu.  Ngay cả nếu tái diễn lại, nó cũng sẽ yếu kém hơn.

img_7919

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma – Anh dịch: Alexander Bein.

IMG_7872

Phương pháp lạy Phật

Phương pháp lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, nhưng mang lại những lợi ích rất lớn. Ai tập cũng được, bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả. Đây là kết tinh của những kinh nghiệm tu luyện quý báu của chư tổ, đã kết hợp các phương pháp tu tập của Thiền gia và vũ thuật gia để chế tác thành.
Sự Lợi Ích

Phương pháp Lạy Phật là kết tinh của những kinh nghiệm tu tập sâu sắc từ những truyền thống đạo học đông phương. Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành trì pháp môn này vô cùng lớn lao. Sự lợi ích đó đạt được cả trên hai phương diện thân xác cũng như tinh thần.

img_4820

Về Thân: phương pháp Lạy Phật mang lại những hiệu quả sau:

1. Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể dục tốt. Với những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất cả các bắp thịt trên toàn thân đều được vận động tối đa. Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường khi thể dục chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt đồng đều cùng một lúc. Ví dụ: khi đi bộ, chúng ta vận động nhiều bắp thịt ở chân. Chỉ có bơi lội chúng ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả các bắp thịt trên cơ thể đều hoạt động làm khí huyết toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa trị các chứng thấp khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo khác..

2. Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động. Từ huyệt bách hội trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan điền, các huyệt dọc theo xương sống và các huyệt ở tay chân. Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy đều khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn ra. Theo y học đông phương, một khi các huyệt đạo trên cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu chuyển và bệnh tật sẽ tiêu trừ.

3. Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút, chúng ta sẽ có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt đạo được tác động. Sự an lạc này rất sâu sắc, một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được trong lúc thiền định. Sự an lạc này mang lại cho chúng ta niềm hoan lạc suốt ngày. Từ đó những phiền não, những ưu tư, những đau buồn… cũng nhanh chóng tan biến.

4. Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa trong truyền thống yoga Ấn Độ. Các luân xa này nằm dọc theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn tọa gồm bảy luân xa. Một khi được tác động, các luân xa này giúp chúng ta khai triển được những năng lực mầu nhiệm tiềm tàng trong mỗi người, tạo điều kiện thuận tiện cho việc phát triển tâm linh.

Về Tâm: phương pháp Lạy Phật là phương pháp điều tâm để thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ và hành động). Phương pháp này giúp ta:

1. Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng. Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tu tâm để thanh tịnh ba nghiệp. Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng duyên đều được chuyển hóa.

2. Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát. Như thế Bồ Đề Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên. Sự an lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người ghét.

3. Đức khiêm cung phát sinh: trong khi hạ mình xuống sát đất để lạy Phật, để thấy những thành đạt của mình chỉ là những giọt nước trong đại dương bao la. Bác Vũ Xuân Hoài phát biểu trong buổi thảo luận Phật pháp, để chuyển hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày bác lạy Phật để hồi hướng công đức về thiên, về địa, về sư trưởng, về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng trùng ân nghĩa. Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn của nhiều người. Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh. Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát.

Sự Hành Trì

Trong truyền thống Việt Nam, chúng ta có lạy Hồng Danh, Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Tùy theo hoàn cảnh và khả năng để áp dụng lễ lạy cho thích hợp. Điều quan trọng là sự hành trì đều đặn. Nếu chưa quen chúng ta có thể bắt đầu bằng ba mươi lạy, rồi sau đó tăng dần cho đến một trăm lẻ tám lạy (để trừ một trăm lẻ tám phiền não). Nếu có băng Hồng Danh thì mở băng và theo lời xướng danh hiệu Phật trong băng để lạy. Chúng ta có thể lạy mỗi ngày một hay hai lần.

Cách đơn giản nhất, chúng ta lạy theo hơi thở. Cứ hít vào chúng ta đứng lên và thở ra chúng ta lạy xuống. Cứ lạy chậm rãi. Mỗi lạy chúng ta niệm một danh hiệu Phật và đếm một, cứ như thế cho đến đủ số. Hoặc chúng ta có thể theo dõi đồng hồ và lạy đủ thời gian ấn định thì ngưng. Hoặc mười lăm phút, hai mươi phút hay nửa giờ. Đó là những phương cách đề nghị để chúng ta tùy nghi thực hành.

Sự lễ lạy có thể thực hiện bất kỳ chỗ nào. Miễn là chúng ta có được khoảng không gian bằng chừng chiếc chiếu là đủ để lạy rồi. Tốt nhất là trước bàn Phật, nếu không thì ở chỗ nào cũng được, miễn tâm thành là được. Ngay cả trong phòng ngủ, mỗi sáng lúc thức dậy hay mỗi tối khi đi ngủ chúng ta có thể thực tập.

Khi lạy hai tay chắp ngang trán, đưa xuống ngực rồi lạy xuống sát đất. Điều này biểu tượng cho “thân tâm cung kính lễ” (đem thân đoan nghiêm và tâm thành kính để lễ lạy). Lúc lạy xuống hay tay, hai đầu gối và trán phải chấm đất). Chúng ta nên đứng thẳng người rồi lạy xuống, sau đó đứng thẳng lên. Như thế các bắp thịt khắp châu thân được vận động tốt hơn (trừ khi yếu chân, có thể quỳ lạy).

Trong khi lạy cố gắng kết hợp cả ba phương diện:

Thân: đứng nghiêm chỉnh cử động nhịp nhàng hòa hợp, hơi thở đều đặn

Miệng: niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát

Tâm: quán tưởng đến Phật, Bồ Tát hay cảnh giới của chư Phật và Bồ Tát. Ví dụ: có thể quán tưởng đến Đức Phật A Di Đà đang ở trước mắt, hay cảnh Tịnh Độ chung quanh ta.

Kết Luận

Phương pháp lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, nhưng mang lại những lợi ích rất lớn. Ai tập cũng được, bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả. Đây là kết tinh của những kinh nghiệm tu luyện quý báu của chư tổ, đã kết hợp các phương pháp tu tập của Thiền gia và vũ thuật gia để chế tác thành.

Sự thực hành pháp môn này mang lại lợi ích rõ rệt cho cả thân lẫn tâm. Thân thể cường tráng chữa trị và phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo như bệnh tim, áp huyết cao, ung thư… Tinh thần an lạc thư thái. Sống an vui hạnh phúc trong hiện tại. Tạo điều kiện thuận tiện khai triển khả năng tâm linh vô biên để tiến tới giải thoát hoàn toàn.

Đây là một pháp môn mầu nhiệm, những niềm hoan lạc sâu sắc chúng ta kinh nghiệm được trong lúc hành trì là những bước tiến vững chắc trên bước đường tu tập. Qua những thành tựu đó giúp chúng ta tăng trưởng tín tâm đối với những pháp môn chư tổ truyền lại.

img_2584

IMG_7871

Lạy Phật cách nào cho đúng pháp?

LẠY PHẬT CÁCH NÀO CHO ĐÚNG PHÁP?
Lạy Phật theo cách “NGŨ THỂ ĐẦU ĐỊA” là thể hiện lòng tôn kính nhất.

img_4797

HỎI: Tôi được biết lạy Phật nên theo cách “ngũ thể đầu địa”, đại thể là hai chân, hai tay và đầu đụng mặt đất, tâm thanh tịnh và trang nghiêm. Tuy nhiên thực tế tôi thấy nhiều người lạy Phật với những cách thức khác nhau: Có người ngửa hai lòng bàn tay, trán cúi đặt vào lòng bàn tay. Có người thì úp hai bàn tay xuống đất, trán cúi đặt vào lưng bàn tay. Có người thì trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán. Có người khi cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc. Có người cúi lạy xuống thì ngẩng đầu lên ngay. Tôi không biết cách lạy nào đúng? Ý nghĩa của cách thức lạy ấy thế nào? Kính mong quý Báo hướng dẫn.
ĐÁP:
Các bạn thân mến!
Đúng như bạn nói, lạy Phật theo cách “ngũ thể đầu địa” là thể hiện lòng tôn kính nhất. Ngũ thể đầu địa có nghĩa là năm vóc (đầu, hai tay và hai chân) gieo sát đất. Theo Phật Quang đại từ điển, tập 3, dẫn sách Đại Đường Tây Vực ký (quyển 2), nói về cách lạy Phật “năm vóc gieo xuống đất” gồm: Trước hết, quỳ gối bên phải (gồm toàn bộ gối, cẳng chân và mu bàn chân) sát đất, kế đến là gối bên trái, rồi đến hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc, như thế gọi là một lạy.
Điều cần lưu ý là động tác “hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán”. Động tác này biểu thị cho việc hai tay người lạy nâng bàn chân của Thế Tôn cung kính đảnh lễ .
Cho nên, cách lạy này còn gọi là “đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (đầu mặt chạm chân Thế Tôn cung kính lễ lạy). Như vậy, cách lạy mà bạn mô tả “trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán” là đúng với cách lạy “ngũ thể đầu địa”.
Một điều nữa cần lưu tâm là “đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc”. Việc cúi lạy rồi “giữ yên một lúc” là rất cần thiết vì không chỉ thân mà cả tâm đều cung kính lễ. Do đó, cần một khoảng thời gian để dốc hết tâm tư cung kính lễ lạy Phật. Lạy Phật nên chậm rãi, thong thả mới trang nghiêm và thành kính. Nên, những ai “cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc” là đúng với quy cách lạy “ngũ thể đầu địa”.
Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, khi kính lễ Tam bảo năm vóc gieo sát đất có ý nghĩa nhiếp phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính:
1. Khi gối bên phải sát đất nguyện cho chúng sanh được đạo chánh giác.
2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sanh không khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chánh giác.
3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thế Tôn ngồi tòa kim cương, đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập đại Bồ-đề.
4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sanh xa lìa ngoại đạo, khiến họ vào chánh đạo.
5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sanh lìa tâm kiêu mạn, đều được thành tựu vô kiến đỉnh tướng.

img_5891

TheVADungTam

Thể và dụng của Tâm

Tất cả chúng ta đều đang sống với tâm và bằng tâm. Tùy theo chất lượng của tâm mà chúng ta có đời sống như thế nào. Nếu tâm nặng nề, hạn hẹp, ô nhiễm thì cuộc đời của chúng ta hẳn ở những cấp độ thấp, nhiều khổ đau; tâm nhẹ nhàng, rộng lớn, trong sáng thì cuộc đời của chúng ta ở những cấp độ cao, nhiều hạnh phúc. Thế nên chúng ta phải hiểu biết, kinh nghiệm tâm ở những chiều cao rộng nhất của nó. Đó chính là mục đích thật sự của đời người.
img_5095
– Thể của tâm
Luận Đại Thừa Khởi Tín của ngài Mã Minh nói:
“Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng bao trùm khắp. Pháp giới Một Tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của Như Lai, Pháp thân này còn gọi là Bản giác.
Một niệm tương ưng (với thể của tâm), biết rõ được tâm vô minh sơ khởi, tâm không còn tướng sơ khởi của vô minh. Vì xa lìa vọng niệm vi tế nên thấy được bản tánh của tâm. Chứng được tâm vốn thường trụ gọi là Cứu cánh giác.
Bởi thế trong Khế Kinh nói rằng: ‘Nếu chúng sanh quán vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về trí Phật’”.
Thể của tâm, hay bản tánh của tâm, vốn là vô niệm, nghĩa là không có tư tưởng phân biệt, chia cắt, không có vọng tưởng. Vì vô niệm, nó là thanh tịnh, các tư tưởng không thể đạt đến và phá hư bản tánh của tâm. Trong nghĩa đó, nó không thể bị nhiễm ô bởi những tư tưởng. Nó còn được gọi là Pháp thân, Bản giác, Chân Như,Phật tánh…
“Tâm này từ xưa đến nay, tự tánh vốn thanh tịnh. Chân tâm thì vốn không có phân biệt. Nhưng bởi có vô minh nên có tâm nhiễm ô. Tuy có tâm nhiễm ô, nhưng bản tánh của tâm vẫn thường hằng bất biến. Bởi thế chỉ Đức Phật mới thấu rõ nghĩa này. Bản tánh của tâm thường vô niệm nên gọi là bất biến”.
Tóm lại, thể của tâm hay bản tánh của tâm là tánh Không. Nói theo sự lập tông của Lục Tổ Huệ Năng, nó là Vô niệm, Vô tướng, và Vô trụ.
Nhưng nó không phải là một cái không có gì cả, một cái hư không vô tri; Luận Đại Thừa Khởi Tín ví nó như tấm gương sáng và có đủ tất cả các công đức:
“Lại nữa, tự thể và tự tướng của tâm Chân Như, ở nơi tất cả các phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát, chư Phật, từ xưa đến nay chưa hề tăng giảm, chẳng phải trước kia thì sanh, về sau thì diệt. Nó rốt ráo thường hằng như vậy. Từ xưa nay, tánh Chân Như vốn tự sẳn đủ tất cả công đức. Như là:
  1. Đại trí huệ quang minh
  2. Chiếu soi khắp pháp giới
  3. Chân thật rõ biết
  4. Tự tánh của tâm vốn thanh tịnh
  5. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh
  6. Tự tại trong mát không biến đổi”.
Thể của tâm, hay bản tánh của tâm, vốn vô niệm, các tư tưởng không thể làm nhiễm ô, biến chất nó được. Cái vốn giải thoát đó có sẵn và đầy đủ nơi mỗi chúng ta. Hiện giờ chúng ta đang có nó, đây là Nền Tảng cho mọi sự thực hành của chúng ta.
Tất cả các pháp tu, dù đó là Chỉ, Quán, Chỉ Quán song tu, mọi hạnh cho đến niệm Phật, trì chú, quán tưởng Bổn tôn… đều y cứ vào Nền Tảng này. Đó là Đại thừa.
– Dụng của tâm
Dụng của tâm là những tư tưởng, những xúc cảm đang khởi lên của chúng ta. Dụng của tâm là mọi biểu lộ của tâm thành tư tưởng, xúc cảm… có thể cảm nghiệm được. Chỉtiếc rằng những tư tưởng, xúc cảm ấy đều bị nhiễm ô, đều bị “cái ta và cái của ta” pha trộn đủ thứ màu sắc thương ghét, đều bị vô minh làm hôn ám, méo mó, đông cứng, tê liệt. Chính những cái làm cho nhiễm ô, méo mó này khiến chúng ta đau khổ và lạc lõng trong sanh tử.Thật ra, cái trói buộc chúng ta chính là những tư tưởng và xúc cảm bị méo mó của chúng ta. Sanh tử chính là những tư tưởng và xúc cảm bị méo mó của chúng ta, chứbản thân sanh tử không hề có.
Thế nên, chúng ta phải chuyển hóa chúng, tịnh hóa chúng khỏi bị nhiễm ô, đưa chúng trở lại thật thể và thật dụng của nó. Nói theo hệ thống Duy Thức, sự chuyển hóaấy là: A-lại-da thức chuyển thành (hay chuyển trở về, chuyển lại) Đại viên cảnh trí, Mạt-na-thức chấp ngã chuyển thành Bình đẳng tánh trí, ý thức phân biệt chuyển thành Diệu quan sát trí, và năm thức giác quan chuyển thành Thành sở tác trí. Đây là sự chuyển giả về chân, chuyển vọng về thật… của Đại thừa. Nền tảng và kết quả của sự chuyển hóa này y cứ trên sự thật là thể và dụng chỉ là một, như sóng và nước đại dương là một, như bóng trong gương và gương là một.
Ai cũng có dụng của tâm, phàm cũng như thánh. Nhưng không biết (vô minh) dụng ấy của tâm sẽ đưa chúng ta vào sanh tử khổ đau. Còn tịnh hóa được nhiễm ô, thấu rõ được, thì những dụng của tâm ấy sẽ đưa chúng ta trở lại thật tướng của sanh tử là Niết-bàn an lạc.
Về thật dụng của tâm, Luận Khởi Tín nói:
“Thể và tướng (hay dụng) của tánh giác này đồng như hư không, giống như tấm gương sáng sạch.
Gương này có nghĩa Như Thật Bất Không, tất cả cảnh giới thế gian đều hiện trong đó, chẳng ra chẳng vào, không mất không hoại. Đó là Nhất Tâm thường trụ, trong đó tất cả các pháp chính là thật tánh vậy”.
“Tất cả cảnh giới, từ xưa đến nay, vốn là Nhất Tâm, lìa tất cả mọi tưởng niệm. Chỉ vì chúng sanh mê vọng thấy ra cảnh giới, cho nên tâm có phân biệt, chia cắt. Vì vọng khởi các tưởng niệm, chẳng tương ưng với pháp tánh, nên mê mờ chẳng thể thấu hiểu rõ ràng.
Chư Phật Như Lai đã lìa mọi cái thấy, mọi tưởng, nên tâm không chỗ nào không hiện diện. Tâm chân thật ấy là tánh của tất cả các pháp. Tự thể chiếu soi rõ suốt tất cả các pháp, có đại trí dụng vô lượng phương tiện, tùy chúng sanh hợp với chỗ hiểu nào đều có thể khai thị mọi nghĩa của Pháp, cho nên được gọi là Nhất thiết chủng trí”.
Cũng một thể và dụng của Nhất Tâm , nhưng chúng sanh thì biết một cách sai lầm, sử dụng một cách sai lầm, mà càng lúc càng lạc xa khỏi thật tánh của tất cả các pháp chính là Nhất Tâm ấy.
“Thế nên, tất cả chúng sanh không được gọi là Giác, bởi vì từ xưa đến giờ niệm niệm tương tục, chưa từng lìa niệm, đó gọi là vô minh vô thủy.
Nếu được vô niệm thì biết tướng sanh trụ dị diệt của tâm (của các niệm) đồng với vô niệm. Thật ra bản giác vô niệm này không khác với thủy giác. Chỉ do bốn tướng sanh trụ dị diệt cùng lúc nương nhau mà có, đều không tự lập (đều vô tự tánh). Tâm (vô niệm hay hữu niệm) xưa nay vốn bình đẳng, đồng một tánh Giác”.
Niệm sanh trụ dị diệt đều duyên sanh vô tự tánh, thấy được sự vô tự tánh của tất cảcác niệm thì ngay đó niệm vốn giải thoát.
img_6715
Nói cách khác, niệm sanh trụ dị diệt đồng với vô niệm, niệm đồng với vô niệm thì niệm vốn giải thoát.
“Tất cả các pháp đều từ tâm mà khởi, từ vọng tâm mà sanh. Thế nên tất cả phân biệt là phân biệt trong tâm và của tâm. Nhưng tâm thì không thể thấy, không có hình tướng gì để có thể đắc. Phải biết tất cả cảnh giới của thế gian đều do vọng tâm vô minh của chúng sanh mà tồn tại. Thế nên tất cả pháp, như bóng trong gương, không có thật thể để đắc, chỉ là tâm hư vọng. Tâm sanh thì mọi thứ pháp sanh, tâm diệt thì mọi thứ pháp diệt”.
Tất cả tướng và tưởng là do phân biệt sanh, sự vọng sanh này là của tâm và ở trong tâm. Nhưng tâm “không có tướng gì để đắc”, nên tất cả các tướng và tưởng cũng không có tướng gì để đắc. Tâm vô tự tánh, vô tướng nên tất cả các tướng và tưởng, dù chân hay dù vọng, là vô tự tánh và vô tướng, nghĩa là chúng vốn giải thoát.
Tâm sanh thì mọi thứ pháp sanh, tâm diệt thì các thứ pháp diệt. Nhưng tâm vốn là vô sanh, nên các tướng và tưởng cũng là vô sanh. Thể của tâm vốn là giải thoát, thế nên dụng của tâm cũng vốn là giải thoát.
Như vậy, những pháp môn của Phật giáo, dù chỉ, quán, chỉ quán song tu hay các Ba-la-mật, các hạnh, các thực hành khác… đều nhằm mục đích thấy được thật thể và thật dụng của tâm, hay dùng một thuật ngữ khác, thấy cho được thật tánh và thật tướng của tâm. Chính cái thấy này đưa chúng ta đến giải thoát và giác ngộ.
Vềvấn đề này, Guru Padmasambhava, trong bối cảnh của Đại Toàn Thiện (Dzogchen), thừa cao nhất trong hệ thống Mật giáo của ngài, đã nói như sau:
Quả thật, bản tánh của tâm thì trống không và không có nền tảng nào cả.Tự tâm con thì không chất thể như bầu trời trống không.Chỉ để những tư tưởng ở trong thật tướng của chúng,Không cố gắng sửa sang chỉnh trịchúng, thế là đủ.Bởi vì sự sanh khởi của những tư tưởng và sự được giải thoát của chúng xảy ra đồng thời.Những hình tướng trống không trong chính chúng, trở nên tự giải thoát:Tịnh quang và tánh Không bất khả phân là Pháp thân.Bản thân những hình tướng thì không có lầm lỗi, nhưng do bởi sự bám níu của con vào chúng, mà có những lầm lỗi.Nhưng nếu con biết rằng những tư tưởng bám lấy sự vật ấy là tâm, bấy giờ chúng sẽ được giải thoát bởi tự chúngMọi sự xuất hiện chỉ là một biểu lộcủa tâm.Quả thật tất cả những hình tướng xuất hiện được giải thoát vào thực tánh của chúng.Giống như những đám mây trong bầu trời là tự phát sanh và tự giải thoát.Giống như những làn sóng và nước đại dương không phải là hai.Bất cứ những tư tưởng nào sanh khởi đều được giải thoát vào trong trạng thái vô niệm tự nhiên của tâm.(Self-liberation through seeing with Naked Awareness, Tựgiải thoát qua sự thấy với tánh Giác trần trụi, của Padmasambhava, Vajranatha dịch, Snow Lion 2000).
Chính vì sự bám giữ của chúng ta vào các hình tướng, không để cho chúng theo như bản chất của chúng là tự giải thoát vào trong thật tánh của chúng, mà có ra sanh tử đối với chúng ta. Chính vì không để cho những tư tưởng y như chúng là, như những làn sóng vốn là nước và có sanh có diệt cũng chỉ là nước. Thậm chí sự sanh khởi của chúng và sự diệt, sự được giải thoát của chúng xảy ra đồng thời. Chính vì không để cho nhữngđám mây tư tưởng tự giải thoát, tự tan biến trong bầu trời của tâm, mà cứ cố gắng sửa chữa chỉnh trị hay phá tan chúng mà những đám mây vốn vô tự tánh trở thành có thực, từ đó sanh tử trở thành có thực.
Một cách cụ thể, nếu chúng ta luôn luôn an trụ trong bầu trời của tâm, những đám mây tư tưởng sẽ tự chúng giải thoát, sẽ tự tan biến vào trong bản chất của chính chúng là bầu trời.
Vì không tin, không trực tiếp thể nghiệm, cho nên không thấy thể của tâm vốn là vô niệm, như bầu trời trong sáng mà không một đám mây tư tưởng nào làm nhiễm ô được, che lấp được, nên chúng ta không sống được Bản giác hay Pháp thân vốn thường trụ tại đây và bây giờ của chúng ta. Vì không tin cho nên không thấy dụng của tâm là những tư tưởng mà “sự sanh trụ dị diệt của chúng đồng với vô niệm”, nghĩa là vốn tự giải thoát, như những đám mây tự sanh tự diệt trong bầu trời, thế nên chúng ta không sống được cái dụng thanh tịnh của tâm: “tâm định hay không định, có tướng hay không tướng, xưa nay vốn bình đẳng, đồng một tánh giác”.
Thể của tâm là tánh Không, dụng của tâm là sắc thọ tưởng hành thức. Trong thật tướng, dụng và thể là một, “sắc tức thị Không”, “thức tức là Trí”. Nếu không có dụng của tâm là sắc, nếu không có sắc thì không có gì để học hiểu Không và để Không có thể hiển bày với chúng ta. Nếu không có dụng của tâm là thức thì không có gì để thấy Không, hay Trí. Nếu không có bóng (trong gương) thì không có gì để gương tự hiển bày. Nếu không có sóng thì cũng khó có thể thấy nước của đại dương.
Cáiđầu tiên của số phận con người là kinh nghiệm sanh tử và cũng chính sanh tử là cái trói buộc con người làm con người luân hồi liên tục không dứt. Nhưng cũng nhờ chính sanh tử mà con người có thể nhìn thấy thật tướng của sanh tử là Niết-bàn, và do đó có tự do giải thoát.
Người theo Đại thừa không vội vã bỏ cái dụng của tâm, không vội vàng bỏ chạy khi thấy con rắn, mà thực ra chỉ là sợi dây thừng. Người ấy thực hành để dần dần nhìn ra thể của dụng, thật tánh và thật tướng của dụng, và do đó sử dụng cái dụng này đúng đắn hơn, rõ biết thật tướng của dụng, để từ đó mà có tự giác, giác tha. Khi ấy dụng của tâm chính là cái mà Đại thừa gọi là “phương tiện thiện xảo”.
Chúng ta trở lại với Thiền tông Việt Nam mà cốt lõi của nó là rõ tâm: “cốt chỉ rõ tâm” (Trần Thái Tông, Phổ khuyến phát Bồ-đề tâm).
img_3871
Về thể và dụng của tâm, chúng ta chỉ trích đoạn đầu trong bài Phật Tâm ca của Huệ Trung thượng sĩ:
 
Phật! Phật! Phật! Không thể thấy!
Tâm! Tâm! Tâm! Không thể thuyết!
Nếu tâm sanh, đó tức Phật sanh
Nếu Phật diệt, đó tức tâm diệt
Diệt tâm còn Phật làm sao có
Diệt Phật còn tâm bao giờ xong
Muốn biết tâm Phật, tâm diệt sanh
Hãy chờ mai sau Di Lặc quyết.
Xưa không tâm
Nay không Phật
Phàm thánh trời người như ánh chớp
Thể tâm không thị cũng không phi
Tánh Phật chẳng hư cũng chẳng thực
Bỗng nhiên khởiBỗng nhiên dừng
Qua lại xưa nay giả vòng vo
Đâu chỉ thừa tổ tông mai một
Lại khiến yêu ma loạn trong nhà.
Muốn cầu tâmChớ ngoài tìm
Bản thể như nhiên tự không tịch
Niết-bàn sanh tử buộc ràng suông
Phiền não Bồ-đề không đối địch.
Tâm tức PhậtPhật tức tâm
Diệu chỉ linh minh suốt cổ kim
Xuân đến tự là hoa cười mỉm
Thu về đâu chẳng nước thu trong
Bỏ vọng tâm
Giữ chân tánh
Như người bỏ gương mà tìm bóng
Nào hay bóng hiện ở trong gương
Chẳng biết vọng từ trong chân hiện
Vọng đến không thực cũng không hư
Gương nhận không tà cũng không chánh… 
 
(Ng-Thế-Đăng)
MaiChua

Mái chùa trụ cột hồn dân tộc

Tác giả: Đào Văn Bình.
Cách đây hơn một thế kỷ, tại những quốc gia bị ngọai bang đô hộ, đất nước bị chia cắt, văn hóa bản địa bị triệt hủy, tâm linh dân tộc bị nhục mạ, dày xéo thì kẻ khôn ngoan biết thời biết thế đã chạy theo ngọai bang để kiếm miếng đỉnh chung rồi quay trở lại kết tội và chửi rủa ông bà tổ tiên mình. Tại Việt Nam trong bối cảnh mà:
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới chân ông cử ngổng đầu rồng (Trần Tế Xương)
Và khi nhà cửa, đình, chùa, miếu đền của đất nước tan nát:
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây (Nguyễn Đình Chiểu)
img_7926
…thì tưởng nhớ hoặc tiếc thương hồn dân tộc chỉ là những tiếng khóc than hoặc tiếng thở dài. Ngay cụ Tản Đà muốn bày tỏ lòng ái quốc cũng chỉ dám nói bóng nói gió:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Rồi nhà thơ Vũ Đình Liên muốn hồi tưởng lại uy linh của dân tộc năm xưa cũng chỉ đặt một dấu chấm hỏi:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Thật đau khổ cho dân tộc Việt Nam với một quá khứ huy hoàng. Thế nhưng bây giờ thì có khác. Sau khi thóat khỏi ách đô hộ, các quốc gia độc lập đã học được bài học xương máu là nếu không phục hồi lại khí phách và tâm linh dân tộc thì không thể nào đòan kết để đối đầu với những cuộc xâm lăng của đủ thứ loại ngọai bang, công khai cũng như ngấm ngầm dưới mọi hình thức. Sự trỗi dậy của các quốc gia Hồi Giáo, ngọai trừ hành động quá khích của thiểu số, nó còn là một nỗ lực để bày tỏ khí phách và bảo vệ giá trị tâm linh mà họ nghĩ rằng giá trị đó lúc nào cũng có thể bị Tây Phương xâm thực và hủy họai.
img_7927
Vậy thì tâm linh dân tộc là cái gì mà người ta phải dùng xương máu để bảo vệ? Chỉ cần nhìn vào thực tế chúng ta sẽ thấy ngay câu trả lời. Chúng ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng tâm linh của dân tộc Do Thái là Do Thái Giáo. Tâm linh của các dân tộc Âu Châu, Canada, Úc Châu, Hoa Kỳ là Ky Tô Giáo, tâm linh của dân tộc Ấn Độ là Ấn Độ Giáo…và hiển nhiên tâm linh dân tộc của Tích Lan, Tây Tạng, Miến Điện, Lào, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Căm Bốt và Việt Nam là Phật Giáo. Thế nhưng khác với các Thần Giáo, tâm linh dân tộc của các xứ thuấn nhuần tư tưởng Phật Giáo, chính yếu không phải là sự tuân phục và thờ phượng thần linh – mà là sự thể nhập giáo lý một cách hài hòa vào cuộc sống. Tại đây, sự thờ phượng là thứ yếu còn “cứu khổ độ sanh, hộ quốc an dân” mới là cứu cánh.
Đối với người Việt Nam , tâm linh của dân tộc rất linh thiêng nhưng không huyền bí.Nó không huyền bí vì nó không dựa vào Thần Linh. Đó là niềm tin vào giáo lý của Đức Phật bằng xương bằng thịt, rồi từ đó rút ra những giá trị đạo đức cao nhất, rồi chan hòa trong cuộc sống qua một thời gian rất dài rồi trở thành truyền thống dân tộc. Chính tâm linh này đã soi rọi cho cách cư xử, nếp nghĩ, phương châm hành động của ông bà chúng ta trong mấy ngàn năm, chẳng hạn như:
– Chị ngã em nâng.
– Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ.
– Thương người như thể thương thân.
– Chín bỏ làm mười.
– Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.
– Làm lành lánh dữ.
– Ở hiền gặp lành.
– Hiếu thảo, báo đáp công ơn sinh thành.
– Báo tứ trọng ân (Ân tổ tiên, ân đất nước, ân Tam Bảo, ân đồng bào và nhân loại)
– Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân…
Và chính ngôi chùa, qua bao ngàn năm kia đã là biểu tượng cho tâm linh đó một cách tự nhiên. Cứ thử nhìn vào cấu trúc và sinh họat của làng quê, xã thôn Việt Nam thì sẽ thấy:
– Đình làng là nơi hội họp để bàn về việc làng, việc nước, việc vua, việc quan. Nó là biểu tượng của uy quyền thế tục. Tại đình làng phải có tôn ti, trật tự và thứ bậc đâu vào đó. Đình làng sắp đặt thể lệ, thuế má, đôi khi cũng trở thành tòa án để xét xử những vụ tình yêu trai gái vụng trộm v.v.. Thành Hòang Làng là vị thần mà dân làng tin tưởng sẽ đem lại mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt vì ngày xưa người dân sống về nông nghiệp.
 img_7928
– Miếu, Văn Miếu để ghi công và thờ phượng các danh nhân, các bậc sĩ phu của đất nước như miếu thờ Cụ Cao Bá Quát, Cụ Nguyễn Du, Cụ Chu Văn An, Bà Công Chúa Liễu Hạnh, Cụ Ôn Như Hầu, Cụ Nguyễn Công Trứ, Cụ Nguyễn Trãi, Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cụ Lê Quý Đôn v.v.. Miếu và Văn Miếu biểu tượng cho văn hóa dân tộc.
– Đền là nơi thờ phượng các vị anh hùng hoặc các vị có công dựng nước như đền thờ Vua Hùng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, đền thờ Vua Lê Đại Hành, Vua Đinh Tiên Hòang, Vua Lý Thái Tổ, Đức Thánh Trần, Vua Lê Lợi, đền thờ Vua Quang Trung v.v..Đền thờ các anh hùng là biểu tượng sống động của lịch sử và khí phách dân tộc. Tới Đền Kiếp Bạc để chiêm bái Đức Thánh Trần chúng ta thấy khí phách hào hùng của dân tộc đã đánh tan ba cuộc xâm lăng của Đế Quốc Nguyên Mông.
– Còn Ngôi Chùa là nơi thờ Phật và hiển nhiên là biểu tượng tâm linh của dân tộc, mà một vị nào đó đã nói:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc”
Tất cả những gì nói ở trên, những sinh họat của Đình, Chùa, Miếu, Đền của làng quê Việt Nam đã kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa từ mấy ngàn năm để trở thành bản sắc dân tộc. Dưới đây chúng ta sẽ nói thêm về những nét đẹp, nét dễ thương, nét hiền hòa, nét đôn hậu, nét trữ tình, nét từ bi, nét bao dung của ngôi chùa.
1) Mái chùa không phải là nơi gieo rắc oan khiên mà là chỗ giải oan. Chính vì vậy mà Đạo Phật không gieo rắc oan khiên cho nhân lọai là như thế đó. Bao nhiêu ân oán giang hồ hễ tới chùa thì phải tiêu tan. Chùa không phải là nơi phân xử đúng sai, có tội hay không có tội. Chùa là nơi xả bỏ tất cả những gì gọi là Đúng Sai. Đạo đức của chùa nằm ở lòng Từ Bi, Hỉ Xả. Muốn biết Đúng Sai, muốn biết có tội hay không có tội xin đến tòa án, đến ông luật sư, đừng đến chùa.
2) Chùa không phải là nơi bàn bạc âm mưu khuất lấp mà cửa chùa rộng mở. Nhà chùa không có gì phải che giấu cho nên Phật Giáo không có dòng tu kín. Chỗ hành thiền, chỗ ở của ni /sư, nhà trù, nơi thọ trai, chánh điện, nơi thờ Tổ …mọi người có thể thăm viếng. Sự linh thiêng của một ngôi chùa không phải là phép mầu hoặc là nơi bao trùm bí mật…mà là giới luật, đạo hạnh của sư, ni.
 img_7929
3) Mái chùa không phải là nơi mưu việc thống trị thiên hạ mà là nơi cứu khổ độ sanh. Chùa không phải là trung tâm quyền lực của đất nước hay của thế giới. Trung tâm quyền lực của đất nước nằm ở quốc hội, nằm ở chính phủ, nằm ở người dân. Chùa không phong chức cho ai. Chùa không ủng hộ ai mà cũng không bài bác ai. Chùa không phải là nơi chia chác lợi lộc ngoài đời. Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, nhiều Thánh tăng đã trở thành quốc sư, sứ thần của triều đình nhưng chùa không bao giờ là nơi để thế gian thậm thụt tới lui xin xỏ quyền chức.
4) Mái chùa không phải là nơi gom góp tiền bạc, mà là nơi chu cấp cô nhi, giúp người nghèo khó. Tiền bạc của đàn na thí chủ thì được dùng vào việc phước thiện. Bởi vì đạo Phật quan niệm rằng không có sự giàu có và phước báu nào bằng Bố Thí. Chất chứa của cải, vàng bạc đầy kho chỉ là biểu hiện của lòng Tham. Đạo Phật là đạo diệt Tham chứ không phải là đạo ôm ấp, bảo vệ lòng Tham. Người Nam trước đây có câu nói thật dễ thương “Tiền Chùa”. Mượn tiền của người ta xài đã đời rồi không trả, chủ nợ tức quá hỏi “Bộ tiền chùa hả?” Tiền chùa là tiền ai đến xin cũng được. Chùa chỉ cho không và không bao giờ tính lời, tính lãi.
5) Dù bao nhiêu hưng-phế, bao cuộc hý trường, cười đau khóc hận đã qua nhưng trái tim của chùa, tấm lòng của chùa vẫn hằng trụ, vẫn bất biến, không bị hoen ố theo thời gian đó là cái Tâm Lành và Thủy Chung với đất nước. Chùa có thể bị phá tan, nhưng chùa không bao giờ bị khuất phục bởi bất cứ thế lực Cường Quyền, Thực Dân, Đế Quốc, Xâm Lược nào.
 img_7930
6) Qua vài ngàn năm, mái chùa là hình ảnh quen thuộc đã đi vào tiềm thức của dân tộc. Tại sao thế? Bởi vì chùa – nơi mà sư cụ, sư bác thì hiền từ, sư bà, sư cô thì dịu dàng. Đời sống của chùa đơn sơ đạm bạc, phong cảnh chùa thì tịch tĩnh nên thơ, tiếng chuông chùa êm ả như tiếng tỉnh thức của lòng mình:
Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng (Chu Mạnh Trinh)
Mùa xuân Tết đến, sau những ngày vui chơi với gia đình, làng nước, người người bảo nhau đi lễ chùa. Khi xuân còn phơi phới, lòng người hân hoan, gió xuân hiền hòa, trăm hoa đua nở…thật trên đời không có gì đẹp hơn là Đi Lễ Chùa.
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem Cầu Thê Húc xem Chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Bút Tháp chưa mòn
Hỏi ai xây dựng nên non nước này? (Ca Dao)
Chính vì thế mà Hội Chảy Chùa Hương là một hội lớn của dân tộc, giống như những cuộc hành hương về Mecca mỗi năm của hằng triệu người Hồi Giáo.
Hôm nay đi Chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
(Nguyễn Nhược Pháp)
Thế nhưng lễ chùa để làm gì đây? Trước hết để cho tâm hồn thanh thản, trút bỏ bớt muộn phiền, xả bỏ bớt Tham-Sân-Si, rồi nhân đó thắp một nén nhang cầu nguyện cho cửu huyền thất tổ. Sau đó đóng góp một phần nhỏ làm công đức với chùa, rồi một phần lại đem về. Nhưng khác với đồ ăn thức uống hoa trái chưa cúng Phật. Những gì sau khi đã cúng Phật rồi đều đựơc coi là lộc đem lại tốt lành cho gia đình. Người Việt mình cứ tin như thế cả ngàn năm rồi và cả tôi nữa, dù ở trên đất Mỹ hơn 25 năm cũng vẫn tin như thế. Bữa cơm chay ở chùa dù là tương chao, dưa muối vẫn linh thiêng hơn là bữa cơm thịnh sọan ở nhà. Chính vì thế mà người Tây Phương thấy lạ là tại sao người Việt Nam , người Trung Hoa cứ thích tới chùa ăn cơm chay. Xin thưa đó là nét đẹp của dân tộc chúng tôi mà nếu không phải là người Việt Nam hoặc người Trung Hoa thì quý ngài không sao hiểu được.
7) Mái chùa còn là nơi nương náu khi chúng ta gặp họan nạn, cùng đường mà không ai dung chứa. Lỡ dại yêu nhau, sinh con không tiền nuôi nấng, sợ làng xóm chê cười bèn đem con bỏ chùa. Do đó nhiều chùa đã trở thành cô nhi viện để nuôi nấng trẻ em bạc phước. Chẳng hạn như Chùa Bồ Đề ở bên kia sông Hồng, Chùa Đức Sơn ở Hương Thủy, Huế đã nuôi nấng, dạy văn, dạy võ thuật cho 198 trẻ em khuyết tật hoặc mồ côi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi, để các em tự tin, dũng cảm để tự vượt qua nỗi bất hạnh của cuộc đời. Mới đây nhất là chuyện một mục sư Nam Hàn đã vào chùa để lánh nạn suốt 34 năm trời. Rồi chuyện của nhà độc tài quân phiệt khét tiếng Nam Hàn là Tổng Thống Chun Doo Hwan sau khi hết quyền hết thế, bị lôi ra tòa kết án tử hình. Cuối cùng phải cạo đầu, xin nương náu ở chùa, sau được giảm án thành chung thân rồi được ân xá. Dĩ nhiên chùa đâu phải là nơi dung chứa tội phạm. Thế nhưng khi một kẻ gặp bước đường cùng như thế, nhà chùa làm sao có thể đuổi họ ra ngòai? Cửa chùa rộng mở là tôn chỉ của chư tăng, ni mà. Cho nên kẻ phạm tội có thể tạm thời lưu tại đó cho đến khi nhà chức trách biết được và mời ông ấy đi, chứ chùa không xua đuổi ai cả.
 img_7931
8) Mái chùa còn là bối cảnh nảy nở bao mối tình đẹp như hoa còn truyền tụng cho tới ngày nay. Trong Bích Câu Kỳ Ngộ Tú Uyên đã gặp Giáng Kiều nơi cảnh Phật:
Ngọc Hồ có đám chay tăng ,
Nức nô cảnh Phật, tưng bừng hội Xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân ,
Ngổn ngang mã tích xa trần thiếu ai .
Thưởng Xuân sinh cũng dạo chơi,
Thơ lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu.
Rồi quan huyện Từ Thức, đẹp trai, hào hoa, may mắn gặp Tiên Nữ cũng tại một ngôi chùa nổi tiếng của Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh. Rồi chuyện Vua Lý Thánh Tông đi thăm Chùa Dâu mà gặp cô thôn nữ tên Yến Loan tại đây. Vua ưng ý đem về cung phong làm Ỷ Lan Phu Nhân, sau là Nguyên Phi cuối cùng là Hoàng Thái Hậu. Bà sinh cho Vua hai hoàng tử nối dõi ngai vàng. Nếu Vua không đi chùa, may mắn gặp cô Yến Loan thì chắc chắn sẽ tuyệt tự vì năm đó Vua đã 40 tuổi mà không con. Có lẽ vì giai thọai này được truyền tụng trong dân gian cho nên những ai hiếm muộn đều đến Chùa để xin Phật Bà Quan Âm ban cho một mụn con gọi là “con cầu tự”. Chuyện cầu tự có thể thấy trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam .
9) Ngày nay do xã hội phát triển quá nhanh, nhanh đến chóng mặt và nhiều hư hỏng, cám dỗ cho nên nhu cầu giáo dục thanh-thiếu-niên là nhu cầu bức thiết. Chính vì thế mà chùa đã trở thành trung tâm sinh họat của các đoàn sinh Gia Đình Phật Tử. Các em đến đây để sinh hoạt, vui chơi, huân tập để trở thành một công dân tốt được trang bị bằng những giá trị đạo đức vững chắc, khi trưởng thành vào đời cố gắng vươn lên, góp phần vào việc lành mạnh hóa xã hội và không quên giúp đỡ kẻ khác trong tinh thần Bi-Trí-Dũng. Chùa làm bao lợi ích cho đời như thế cho nên những ai nói rằng chùa yếm thế, chỉ lo việc Đạo không lo việc Đời hoặc “trốn việc quan đi ở chùa” kẻ là thiếu hiểu biết hoặc ác khẩu.
10) Hiện nay trên tòan thế giới, từ Âu sang Á, thậm chí cả Phi Châu, Tân Tây Lan, Úc Châu, Ấn Độ đã có khỏang 300 ngôi chùa do ni, sư Việt Nam trụ trì. Dù có nơi còn rất khiêm tốn và chỉ như một ngọn đèn rất nhỏ trong đêm tối. Thế nhưng dù là một ngọn đèn nhỏ vẫn là ngọn đuốc Từ Bi và Trí Tuệ được thắp lên, những chủng tử lành bắt đầu được gieo trồng. Mỗi bộ tộc, mỗi quốc gia đều có lương tâm và đạo đức riêng của họ. Nhưng muốn thế giới này tồn tại trong yên vui thì con người cần phải có một nền đạo đức chung. Chúng ta hãy nghe học giả Moni Bagghee nói “ Thế giới ngày nay ngày càng hướng về Đức Phật vì ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân lọai.” (*) Cho nên sự hiện diện của ngôi chùa, dù bất cứ ở đâu sẽ là biểu tượng của một nền đạo đức cao cả nhất mà con người cần phải vươn tới. Chúng ta có thể tin tưởng vững chắc điều này như nhà bác học Albert Einstein đã khẳng định cách đây hơn nửa thế kỷ “ Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo tòan cầu, vượt lên trên mọi Thần Linh, Giáo Điều và Thần Học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện Tự Nhiên lẫn Siêu Nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lãnh vực nói trên, trong cái Nhất Thể đầy đủ ý nghĩa. Phật Giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó.” (*)
Lời Kết:
Trải bao hưng phế, chùa đã nổi trôi theo dòng lịch sử và gắn liền với vận mệnh dân tộc. Khi nào đất nước hưng thịnh, tự chủ thì chùa chiền đông đúc, trăm họ âu ca, giáo lý hiền hòa phổ cập trong dân gian. Khi nào đất nước loạn ly, ngọai xâm dày xéo thì chùa chiền tan nát và cũng là lúc mà tâm linh của dân tộc tan nát, trầm vong!
Kinh qua lịch sử đau thương của những thời kỳ mất nước, và nhìn vào những xung đột của thế giới ngày hôm nay chúng ta thấy vũ khí tối tân để bảo vệ đất nước là điều phải có, nhưng sức mạnh của một dân tộc không hoàn tòan nằm ở vũ khí. Một dân tộc muốn kết thành một khối hùng mạnh nó phải dựa trên ba trụ cột: Văn Hóa, Khí Phách (Lịch sử)và Tâm Linh. Chúng ta có thể mua vũ khí ở nước ngòai, nhưng chúng ta không thể chờhoặc nhờ ngọai bang tới để dạy dỗ văn hóa dân tộc, rao giảng, truyền bá khí phách và tâm linh cho dân tộc chúng ta. Cứ thử tưởng tượng ngày mai đây, tất cả các nhà thờ tại Âu Châu, Hoa Kỳ biến mất và được thay vào đó bằng các thánh đường Hồi Giáo thì Hoa Kỳ và Âu Châu có còn là Hoa Kỳ và Âu Châu nữa không? Ngược lại, tại các quốc gia Trung Đông và Ả Rập, các đền thờ Hồi Giáo biến mất và được thay bằng các nhà thờ Ky Tô Giáo thì Trung Đông và Ả Rập có còn là Ả Rập và Trung Đông nữa không? Như vậy, xét về mặt tâm linh dân tộc, ngôi chùa là một biểu tượng linh thiêng bất khả thay thế. Vậy thì đối với người Việt Nam , tô thắm cho các ngôi chùa, khuyến khích mọi người đi lễ chùa, duy trì sự hiện diện của ngôi chùa – là bảo vệ tâm linh và bản sắc dân tộc. Muốn đất nước tồn tại, độc lập, hùng mạnh, tự chủ và phát triển trong tinh thần nhân ái mà không mất bản sắc, thì từng giây, từng phút chúng ta không thể phó mặc tâm linh của dân tộc muốn ra sao thì ra. Nói khác đi không thể phó mặc chùa còn hay mất, sao cũng được.